View Full Version : Văn hào Maxim Gorky (1868-1936) - Cha đẻ trường phái hiện thực xã hội trong văn chương
Adonis
16-01-2011, 05:17 PM
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/26/Maxim_Gorky_authographed_portrait.jpg/150px-Maxim_Gorky_authographed_portrait.jpg
Aleksei Maksimovich Peshkov (Maxim Gorky)
Maxim Gorky, nhà văn Liên Xô vĩ đại mở đầu trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhà hoạt động văn hóa xã hội lỗi lạc của nhân loại, tên thật là Aleksei Maksimovich Peshkov (tiếng Nga: Алексей Максимович Пешков), sinh ngày 28-3-1868, tại thành phố Nizhni Novgorod, nay là thành phố Gorki, miền Nam nước Nga, trong một gia đình lao động nghèo, cha làm nghề thợ mộc. Mới 10 tuổi, Gorky đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải sống với ông bà ngoại. Ông được người bà của ông nuôi dưỡng, bà ông là một người rất giỏi kể truyện. Cái chết của bà ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của ông, sau một lần tự vẫn không thành vào năm 1887, ông đã đi bộ xuyên qua Đế chế Nga trong 5 năm trời, thay đổi nghề nghiệp và tích lũy vốn kiến thức để sử dụng vào việc viết các tác phẩm của ông sau đó.
Cảnh nhà sa sút, Gorky phải bỏ học, tự lực kiếm sống, làm rất nhiều nghề lặt vặt và đi khắp nước Nga (1878 - 90). Năm 1892, ông viết truyện ngắn đầu tiên đăng báo ở Tiflis, với bút danh Maxim Gorky, mở đầu cho con đường sáng tác của nhà văn vĩ đại tương lai. Cái tên phản ánh sự tức giận của ông về đời sống ở Nga khi đó và sự quyết tâm nói nên sự thực đắng cay. Sau đó, ông trở về Nizhni Novgorod và bắt đầu làm nghề báo. Năm 1895, truyện ngắn thứ hai của ông Chelkash đã thu hút sự chú ý của đông đảo độc giả. Tiếp đó là một loạt các truyện ngắn và bút ký hiện thực xuất sắc được ông viết trong những năm 1895 - 1900, miêu tả cuộc sống lang thang, giành được thành công lớn.
Năm 1898, cuốn sách đầu tiên của Gorky có tên Ocherki i rasskaèy (Очерки и рассказы, Các bài tiểu luận và các câu truyện) đã thu đựoc thành công lớn là bước đầu làm cho ông trở thành người có tên tuổi trong nền văn chương Nga. Gorky đã viết không ngừng, phản ánh hiện thực của xã hội để đánh thức lương tâm của mọi người. Ông đã mô tả cuộc sống của những con người ở tầng lớp đáy trong xã hội và bị gạt ra ngoài lề của xã hội, bộc lộ sự gian khổ của họ, sự cực nhọc và bị đối xử hung bạo, nhưng cũng thể hiện ánh sáng lương tâm của họ.
Danh tiếng của Gorky như giọng văn học duy nhất từ những tầng lớp đáy xã hội và như một người ủng hộ nhiệt thành cho cuộc cải cách xã hội, chính trị và văn hoá Nga (tới năm 1899, ông công khai liên kết với phong trào Dân chủ xã hội Mác xít) khiến ông trở nên nổi tiếng trong cả giới trí thức và số lượng ngày càng gia tăng các công nhân "có ý thức". Ở trung tâm của mọi tác phẩm của ông là một niềm tin ở giá trị vốn có và khả năng của con người (личность, lichnost'). Ông đưa ra các cá nhân đầy sức sống, nhận thức về phẩm giá tự nhiên của họ, và có cảm hứng từ nhiệt tình và ý chí của họ, những người chống lại các điều kiện sống đang ngày càng tồi tệ đi quanh mình. Tuy nhiên, cả các tác phẩm cũng như những bức thư của ông cho thấy một "con người không ngừng nghỉ" (một người thường xem xét lại mình) đấu tranh để giải quyết những tình cảm về đức tin và thái độ hoài nghi trái ngược bên trong, tình yêu cuộc sống và sự phẫn nỗ với sự tầm thường và nhỏ mọn của thế giới con người.
Ông công khai phản đối chế độ Sa hoàng và bị bắt giữ nhiều lần. Gorky kết bạn với nhiều nhà cách mạng và trở thành người bạn của Lenin sau khi họ gặp gỡ năm 1902. Ông phản ánh việc chính phủ kiểm soát báo chí (xem vụ việc Matvei Golovinski). Năm 1902, Gorky được bầu làm một thành viên danh dự của Viện hàn lâm Văn học, nhưng vua Nicholas II ra lệnh huỷ bỏ việc này. Để phản đối, Anton Chekhov và Vladimir Korolenko rời Viện hàn lâm.
Năm 1901, Gorky bị bắt giam và trục xuất khỏi quê hương vì có quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng. Năm 1904, sau khi đã làm xấu đi mối quan hệ của mình với Nhà hát Nghệ thuật Moscow sau cuộc xung đột với Vladimir Nemirovich-Danchenko, Gorky quay trở lại Nizhny Novgorod để thành lập một nhà hát của riêng mình. Cả Constantin Stanislavski và Savva Morozov đều hỗ trợ tài chính cho nhà hát. Stanislavski coi nhà hát của Gorky như một cơ hội để phát triển mạng lưới các nhà hát tại các tỉnh mà ông hy vọng sẽ cải cách được nền nghệ thuật sân khấu tại Nga, việc ông đã hy vọng từ những năm 1890. Ông gửi một số học sinh từ Trường Nghệ thuật Nhà hát - và cả Ioasaf Tikhomirov, người điều hành trường — tới làm việc tại đó. Tuy nhiên, tới mùa thu khi cơ quan kiểm duyệt đã cấp mọi vở kịch mà nhà hát xin đưa lên sân khấu, Gorky rời bỏ dự án. Khi ấy đã là một tác gia, biên tập viên, người viết kịch thành công về tài chính, Gorky hỗ trợ tài chính cho Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDLP), ngoài ra ông cũng ủng hộ những lời kêu gọi của phái tự do tới chính phủ đòi cải cách xã hội và nhân quyền.
Vụ bắn giết dã man những người công nhân tuần hành yêu cầu cải cách của Sa hoàng vào ngày 9 tháng 1 năm 1905 (được gọi là "Chủ Nhật đẫm máu"), dẫn tới cuộc Cách mạng năm 1905, dường như đã khiến Gorky trở nên chống đối chế độ Sa hoàng kịch liệt hơn. Năm 1905, ông gia nhập Đảng Bolshevik, gặp và kết bạn với Lenin. Sau khi Cách mạng năm 1905 bị thất bại, năm 1906, ông ra nước ngoài, mới đầu sang châu Âu, châu Mỹ rồi đi Ý, trú ngụ tại đây đến năm 1913 mới quay về tổ quốc nhờ lệnh ân xá chính trị.
Tại London, vào năm 1907 Lenin có nhìn nhận về ông: "Tôi là người hâm mộ tài năng của anh". Các tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông trong những năm này là loạt kịch chính trị, nổi tiếng nhất là The Lower Depths (1902). Năm 1906, những người Bolshevik cử ông đi một chuyến gây quỹ tới Hoa Kỳ, nơi tại Núi Adirondack Gorky đã viết tác phẩm nổi tiếng của mình về đấu tranh và chuyển biến cách mạng, Мать (Mat’, Người Mẹ). Những trải nghiệm của ông tại đó - gồm cả một scandal về việc ông đi cùng người tình chứ không phải vợ - đã làm sâu sắc hơn sự khinh miệt của ông với "tâm hồn tư sản" và cả với sự ngưỡng mộ của ông với tính dũng cảm của tinh thần Mỹ. Khi bị bỏ tù một thời gian ngắn tại Pháo đài Peter và Paul khi cuộc Cách mạng Nga năm 1905 thất bại, Gorky đã viết vở kịch Những đứa trẻ của Mặt trời, được đặt trong bối cảnh vụ dịch tả năm 1862, nhưng nói chung được hiểu có liên quan tới những sự kiện đương thời khi ấy.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/5/50/1900_yalta-gorky_and_chekhov.jpg/220px-1900_yalta-gorky_and_chekhov.jpg
Anton Chekhov và Gorky
Maxim Gorky và một nhà văn nổi tiếng người Nga khác là Lev Nikolayevich trở thành một đôi bạn thân. Tuy nhiên, họ có những điểm khác nhau về thân thế và quan điểm: trong khi Tolstoy sinh ra trong một gia đình giàu có, Gorky lại là một người thuộc giai cấp vô sản. Ông là người chủ trương thay đổi nước Nga trong khi Tolstoy lại không muốn sự bất công bị tiêu diệt bằng vũ lực. Ông là một người không có niềm tin tôn giáo, trong khi Lev Tolstoy lại là một người đặt niềm tin vào Thiên Chúa. Ngoài ra, về tuổi tác thì ông thua Tolstoy đến 40 tuổi. Bên cạnh đó, lòng yêu văn học là điểm tương đồng của họ. Gorky trở thành một đại văn hào nước Nga ở thế kỷ 20, tuy nhiên ông cũng ảnh hưởng văn học thế kỷ 19 của các nhà văn Tolstoy, Chekhov và cả một người thường bị ông chỉ trích - Fyodor Mikhailovich Dostoevsky. Cuối mùa thu năm 1910, Lev Nikolayevich Tolstoy qua đời. Tại Italia, Maxim Gorky hay tin:
"Bỗng nhiên một bức điện đến từ Roma báo tin Lev Nikolayevich [Tolstoy] qua đời. Tôi cảm thấy sững người trong vòng năm phút. Rồi tôi bật khóc. Tôi giam mình trong phòng và khóc suốt cả ngày. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình mồ côi như ngày hôm đó."
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/1d/1900_yasnaya_polyana-gorky_and_tolstoy.jpg/220px-1900_yasnaya_polyana-gorky_and_tolstoy.jpg
Leo Tolstoy với Gorky ở Yasnaya Polyana
Trong Thế chiến I, căn hộ của ông tại Petrograd được biến thành một phòng làm việc của người Bolshevik, nhưng những quan hệ của ông với những người Cộng sản trở nên gay gắt. Sau khi tờ Novaya Zhizn (Новая Жизнь, "Đời sống Mới") của ông trở thành đối tượng kiểm duyệt của người Bolshevik, Gorky đã xuất bản một tuyển tập tiểu luận chỉ trích những người Bolshevik với tên gọi Những tư tưởng không đúng lúc năm 1918.
Đệ nhất thế chiến bùng nổ, Gorky kiên quyết phản đối chiến tranh, chủ trương hòa bình. Năm 1917, ông tham gia Cách mạng tháng Mười, sau đó, đảm nhiệm rất nhiều công tác văn hóa xã hội, làm giám đốc nhà xuất bản văn học thế giới (1918), đại biểu Xô-viết Petrograd (1919)… Do làm việc quá sức, sức khỏe vốn yếu, Gorky bị lao phổi nặng.
Tháng 8 năm 1921, Nikolai Gumilyov, bạn ông, một người bạn văn và là chồng của Anna Akhmatova, bị Cheka Petrograd bắt giữ vì các quan điểm quân chủ của ông. Gorky vội vã tới Moscow, xin được lệnh thả Gumilyov từ chính Lenin, nhưng khi quay trở về Petrograd ông mới biết rằng Gumilyov đã bị bắn. Tháng 10, Gorky quay trở lại Italia vì các lý do sức khoẻ: ông bị bệnh lao. Năm 1924, ông trở nên buồn bã khi hay tin lãnh tụ Vladimir Ilyich Lenin qua đời.
Theo Aleksandr Solzhenitsyn, việc Gorky quay trở lại Liên bang Xô viết có động cơ từ các nhu cầu vật chất. Tại Sorrento, Gorky thấy mình không có tiền cũng chẳng có danh tiếng. Ông đã đến thăm Liên xô nhiều lần sau năm 1929, và vào năm 1932 Joseph Stalin đích thân mời ông quay trở lại vĩnh viễn, một đề xuất đã được ông chấp nhận. Tháng 6 năm 1929, Gorky tới thăm Solovki (đã được dọn dẹp cho dịp này) và viết một bài báo tích cực về trại Gulag này, nơi đã có tai tiếng ở phương Tây. Sau này ông bình luận rằng mọi thứ mà mình đã viết nằm dưới sự kiểm soát của những người kiểm duyệt. Điều thực tế ông thấy và nghĩ khi tới thăm trại là một chủ đề được bàn luận rất nhiều.
Việc Gorky quay trở lại từ nước Italia Phát xít là một chiến thắng tuyên truyền lớn cho những người Xô viết. Ông được trao Huân chương Lenin và được cấp một biệt thự (trước kia thuộc nhà triệu phú Ryabushinsky, hiện là Bảo tàng Gorky) ở Moscow và một nhà nghỉ nông thôn tại vùng ngoại ô. Một trong những con phố trung tâm của Moscow, Tverskaya, và thành phố nơi ông ra đời đã được đổi lại theo tên ông để vinh danh ông. Chiếc máy bay cánh cứng lớn nhất thế giới hồi giữa thập niên 1930, chiếc Tupolev ANT-20 (ảnh), cũng được đặt tên là Maxim Gorky. Nó được dùng cho các mục đích tuyên truyền và thường bay biểu diễn trên thủ đô Liên xô.
Ngày 11 tháng 10 năm 1931 Gorky đọc truyện cổ tích của mình "Một cô bé và thần chết" cho những người tới thăm Joseph Stalin, Kliment Voroshilov và Vyacheslav Molotov, một sự kiện sau này đã được Viktor Govorov thể hiện lại trên bức tranh của mình. Cùng ngày hôm ấy Stalin để lại bút tích của mình ở trang cuối cuốn sách đó của Gorky: Эта штука сильнее чем "Фауст" Гёте (любовь побеждает смерть)[5] Tiếng Việt: "Tác phẩm này mạnh hơn Faust của Goethe (tình yêu đánh bại cái chết)".
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/4/45/Stalin-Gorky-Voroshilov.1931.jpg/250px-Stalin-Gorky-Voroshilov.1931.jpg
Voroshilov, Gorky, Stalin (từ trái sang phải)
Năm 1933 Gorky xuất bản một cuốn sách đáng hổ thẹn về Kênh Biển Trắng-Baltic, được trình bày như một ví dụ của "sự hồi sinh thành công của những kẻ thù của giai cấp vô sản".
Với sự gia tăng đàn áp của Stalin và đặc biệt là sau cuộc ám sát Sergei Kirov tháng 12 năm 1934, Gorky bị đặt dưới tình trạng quản thúc tại gia không thông báo trong ngôi nhà của ông ở Moscow.
Cái chết bất ngờ của con trai ông là Maxim Peshkov tháng 5 năm 1934 được nối tiếp bởi cái chết của chính Maxim Gorky tháng 6 năm 1936. Suy đoán từ lâu đã rộ lên về hoàn cảnh cái chết của ông. Stalin và Molotov nằm trong số những người khênh quan tài của Gorky trong buổi lễ.
Trong những phiên xét xử mẫu với Bukharin năm 1938, một trong những cáo buộc là rằng Gorky đã bị giết hại bởi các nhân viên NKVD của Yagoda.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a1/USSR_Commemorative_Coin_Maxim_Gorky.png/300px-USSR_Commemorative_Coin_Maxim_Gorky.png
Đồng xu tưởng niệm, được phát hành tại Liên xô nhân ngày sinh lần thứ 120 của Gorky với một bức chân dung ông và chú chim báo bão trên mặt biển dông bão
Các tác phẩm chọn lọc
* Makar Chudra (Макар Чудра), truyện ngắn, 1892
* Chelkash (Челкаш), 1895
* Malva, 1897
* Những tạo vật từng là con người, những câu chuyện được dịch sang tiếng Anh (1905)
o Ở đây có chứa một đoạn giới thiệu của G. K. Chesterton
* Hai sáu người đàn ông và một cô gái
* Foma Gordeyev (Фома Гордеев), tiểu thuyết, 1899
* Ba người trong số họ (Трое), 1900
* Bài ca Chim báo bão (Песня о Буревестнике), 1901
* Bài ca Chim ưng (Песня о Соколе),truyện ngắn, 1902
* Cuộc đời Matvei Kozhemyakin (Жизнь Матвея Кожемякина)
* Người Mẹ (Мать), tiểu thuyết, 1907
* Một lời xưng tội (Исповедь), 1908
* Thành phố Okurov (Городок Окуров), tiểu thuyết, 1908
* Thời thơ ấu (Детство), 1913–1914
* Trong thế giới (В людях), 1916
* Chaliapin, các bài viết trong Letopis, 1917
* Các tư tưởng không thích hợp, các bài viết, 1918
* Những trường đại học của tôi (Мои университеты), 1923
* The Artamonov Business (Дело Артамоновых), 1927
* Cuộc đời Klim Samgin (Жизнь Клима Самгина), epopeia, 1927–36
* Hồi ức Tolstoy (1919), Chekhov (1905–21), và Andreyev
* V.I.Lenin (В.И.Ленин), hồi ức, 1924–31
* The I.V. Stalin White Sea - Baltic Sea Canal, 1934 (tổng biên tập)
Kịch
* The Philistines (Мещане), 1901
* The Lower Depths (На дне), 1902
* Summerfolk (Дачники), 1904
* Những đứa con của Mặt trời (Дети солнца), 1905
* Barbarians, 1905
* Enemies, 1906
* Queer People, 1910
* Vassa Zheleznova, 1910
* The Zykovs, 1913
* Tiền giả, 1913
* Yegor Bulychov và những người khác, 1932
* Dostigayev và những người khác, 1933
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 06:56 PM
Nếu tác giả “Thời thơ ấu” tự tử thành công vào năm 20 tuổi, nước Nga đã mất đi một trí thức lớn, một nhân cách đáng kính, một người kể chuyện kỳ tài của thế kỷ 20.
Aleksei Peshkov (tên thật của Maxim Gorky) thời trai trẻ từng lang thang khắp nơi trên đất Nga và làm đủ mọi nghề để kiếm sống: buôn đồng nát, công nhân bốc vác, bán hàng rong. Cứ mỗi khi đến một thành phố mới, nhà văn tương lai lại sửa soạn trang phục, trưng ra chiếc vali đầy sách và gây bất ngờ cho người nghe bằng hàng tá câu chuyện về những con người kỳ lạ mà ông được gặp trên hành trình cô độc của mình. Năm 20 tuổi, hoang mang trước cuộc đời, Peshkov ném hết những đồng tiền cuối cùng vào một khẩu súng ngắn và chĩa vào ngực mình. Ông không chết nhưng phải mang viên đạn trong phổi suốt 40 năm còn lại của cuộc đời mình. Bạn Gorky - Leonid Andreyev - sau đó đã đùa cợt với ông: “Anh biết anh rồi đấy, một người đàn ông không chịu cố hết sức để tự tử thì cũng chẳng đáng giá bao nhiêu đâu”.
Năm 1892, Aleksei Peshkov ra mắt truyện ngắn đầu tiên với bút danh Maxim Gorky (nghĩa là “cay đắng”). Đó là năm mà những cái tên như Lenin, Trotsky, Stalin hứa hẹn sẽ đưa lại cho người Nga một cuộc đời mới. Năm 1898, khi Gorky xuất bản hai tập truyện ngắn, ông trở thành nhà văn nổi tiếng trên khắp nước Nga. Tên ông xuất hiện nhan nhản trên bao diêm, bưu ảnh và bao thuốc lá. Gorky được coi là nhà văn của “những người cùng khổ”, đại diện của lớp người “Dưới đáy” như tên một vở kịch nổi tiếng của ông. Suốt 2 thập kỷ, Gorky là niềm tự hào của người dân Nga. Ông thậm chí còn được coi là người bảo vệ của nhân dân. Trong lần sinh nhật thứ 50 của mình, Gorky nhận được bức thư từ một tù nhân cùng với lời cầu xin: "Thưa nhà văn!... Tôi bị bỏ tù vì tội giết vợ. Tôi giết cô ta 5 ngày sau khi chúng tôi cưới nhau, bởi vì (anh ta giải thích một loạt các nguyên do)… Liệu ngài có thể ban cho tôi một sự ân xá không?”. Thời bấy giờ, nước Nga nảy sinh ra hàng loạt những kẻ giả danh Gorky, mặc áo khoác dài và cũng đi khắp nơi khắp chốn kể câu chuyện về những con người vô gia cư như nhà văn từng làm.
http://evan.vnexpress.net/News/doi-song-van-nghe/chuyen-lang-van/2008/08/3B9AE010/agorky.jpg
Vốn là một nhà phê bình nghiêm khắc, Gorky có thể ngồi hàng giờ với một cây bút chì để gạch xóa nhan nhản lên bản thảo của mình hoặc của người khác. Mỗi khi đọc báo, ông thường ngứa ngáy sửa chữa, thêm bớt loạn xạ lên trang trước khi ném vào thùng rác. Một lần, nhà văn nhận được một cuộn thòng lọng (dùng để treo cổ) cùng với mẩu giấy hăm dọa, ông ném cuộn dây đi và dùng bút chì biên tập lại lời của những kẻ dọa dẫm, để câu chữ vẫn giữ nguyên được ý định điên khùng nhưng được diễn đạt rõ ý hơn. Bạn bè và người thân rất ít khi nhìn thấy Gorky ngủ. Giường của ông bao giờ cũng gọn gàng như giường ở bệnh viện. Nhà văn thức rất muộn để làm việc về đêm.
Gorky nổi tiếng là người có trí nhớ phi thường. Rất nhiều người quen thân nhà văn đã vô cùng ngỡ ngàng khi ông nhớ hết tên đường phố và những thị trấn mà mình từng đến thăm hàng chục năm trước. Ông còn kể vanh vách cốt truyện của những tác phẩm mà chẳng ai còn có thể nhớ tên tác giả của nó. Ông từng khiến người đối diện ngạc nhiên khi tỏ ra bình thản nhớ về một sự kiện đã xảy ra từ lâu lắm: “Làm sao mọi người lại không nhớ nhỉ? Có một bài báo về chuyện này đăng trên The Messenger of Europe số tháng 10, năm 1887”, ông nói.
Khi Gorky gặp Tolstoy năm 1900, hai người đều là những cây bút vĩ đại của nền văn học Nga. Nhưng lúc này, Tolstoy đã từ bỏ văn chương, say mê đắm chìm trong niềm tin tôn giáo của mình. Tolstoy biến mình thành đấng cứu thế của nước Nga. Ông ăn mặc như nông dân, đi khắp nơi rao giảng về quan điểm bất bạo động và sự tôn trọng những giá trị tinh thần của con người cá nhân.
http://evan.vnexpress.net/News/doi-song-van-nghe/chuyen-lang-van/2008/08/3B9AE010/19a.jpg
Tolstoy (trái) và Gorky.
Những cuộc tiếp xúc với Tolstoy đã giúp Gorky viết nên cuốn hồi ký về tác giả Chiến tranh và Hòa bình. Trong tác phẩm, Tolstoy xuất hiện như một “vị thánh của nước Nga, ngồi trên chiếc ngai bằng gỗ thích dưới một tán cây bằng vàng”.
Hơn ai hết, Gorky là người đặt nhiều kỳ vọng vào cuộc Cách mạng tháng 10 Nga. Nhưng càng ngày ông càng bị vỡ mộng. Ông trở thành tác giả của nhiều bài viết, nhiều tiểu luận phê phán chính quyền đương thời. Nhà văn Iosif Samuilovich Shklovsky từng gọi Gorky là “Noah của giới trí thức Nga”. Ông lập ra rất nhiều tổ chức tìm kiếm việc làm và cung cấp nơi trú ẩn cho những nhà thơ và học giả Nga bị vạ bút. Ông viết hàng trăm lá thư cầu khẩn lên Lenin để xin tha tội cho các đồng nghiệp. Thời bấy giờ, danh sách họ hàng của Gorky tăng lên đột biến vì ông thường xuyên nhận những con người sa cơ là họ hàng thân thích với mình để dễ dàng tìm được sự ân xá. Gorky dường như, ngoài trang văn, còn được coi là một đại diện của lương tâm nước Nga.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 07:34 PM
Mùa hè năm 1919, Maxim Gorky sống trong căn hộ lớn ở Petrograd với khoảng gần hai mươi người nữa, trong số đó có nhiều người vô gia cư, không hề quen biết nhưng vẫn được ông cưu mang.
http://www2.vietbao.vn/images/vn7/the-gioi/70007158-7979sm.jpg
Bà Mura
Lúc này Gorky đã rất nổi tiếng ở phương Tây, nơi coi ông là người kế nghiệp Lev Tolstoy. Gorky thường nhận được những khoản thù lao rất cao, nhưng hai phần ba số tiền ông đều mang cho họ hàng xa, người quen, họ hàng của người quen, người quen của họ hàng. Mùa đông đói rét năm 1919, nhiều nhà văn, nhà khoa học, nghệ sỹ, hoạ sỹ…đã đến nhờ cậy, và ông không từ chối một ai, người thì ông giúp tiền, người thì ông chạy giấy tờ, xin việc giùm.
Một lần, có nữ sĩ trẻ tuổi đến khóc lóc: Cháu mới sinh con mà lại mất sữa. Gorky lập tức viết thư gửi đến nơi cần thiết, và để người ta giải quyết nhanh hơn, ông còn giả vờ úp mở rằng, đây là đứa con ngoài giá thú của chính ông. Chiêu này đã thành công, nên sau đó nhiều bà mẹ trẻ khác cũng bồng con đến nhờ cậy Gorky, đến nỗi nơi cấp tem phiếu sữa phải nổi cáu và tuyên bố không đủ sữa chu cấp cho từng ấy đứa con của đồng chí Gorky, mà bản thân đồng chí nhà văn cũng phải biết xấu hổ với chứ.
http://www2.vietbao.vn/images/vn7/the-gioi/70007158-7980sm.jpg
Nhà văn Maxin Gorky
Vào một ngày như thế, Chukovsky, nhà văn viết cho thiếu nhi nổi tiếng thời ấy đến thăm Gorky cùng với một phụ nữ trẻ tên là Maria Ignatevna Zakrevskaia, gọi thân mật là Mura. Khi Chukovsky giới thiệu hai người với nhau, ngực trái của nhà văn nhói lên một chút. Điều đó cũng không có gì ngạc nhiên, vì Zakrevskaia là một phụ nữ quyến rũ, xuất thân dòng dõi quý tộc lâu đời, có học, thông minh. Năm 18 tuổi, cô lấy chồng, có hai con. Khi cách mạng nổ ra, cô gửi con lên một làng quê ở Estonia, sau đó chồng cũng lên với con, còn Zakrevskaia ở lại Moskva và đem lòng yêu nhân viên đại sứ quán Anh Bruce Lockart mà không biết đấy là điệp viên của cơ quan tình báo Anh.
Khi Lockart bị bắt, Maria cũng bị ngồi tù, nhưng chỉ một thời gian thì được thả. Sau một vài biến cố, cô bị mất sạch tiền bạc, giấy tờ, chồng lại bị giết. Cô chuyển lên Petrograd, nơi có vài người quen, nay đây mai đó, tìm kiếm việc làm. Nhờ có người giới thiệu với Chukovsky lúc này đang làm ở nhà xuất bản “Văn học thế giới”, cô đến xin một chân biên dịch vì rất rành tiếng Anh, nhưng Chukovsky chỉ bố trí được cho cô công việc văn phòng, và Zakrevskaia đã làm rất tốt. Khi nghe Gorky phàn nàn đang thiếu một người thư ký biết việc, Chukovsky liền dẫn Zakrevskaia đến. Hơn nữa, vốn tiếng Anh của cô sẽ rất hữu dụng, vì Gorky thường xuyên trao đổi thư từ với các nhà văn và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng nước ngoài.
Chẳng bao lâu sau Mura dọn đến căn hộ của Gorky. Những người phụ nữ khác trong căn hộ không ai muốn làm công việc nội trợ nên cô gánh luôn. Con trai của nhà văn từ Moskva lên chơi đã phải ngạc nhiên trước sự ngăn nắp, sạch sẽ của căn hộ. Từ đây Mura tự tin chiếm vị trí bà chủ mới của căn hộ vốn thuộc về người vợ cũ đã ly hôn của Gorky. Giữa hai người phụ nữ này có mối quan hệ tuyệt vời, không hề có sự ghen tuông nào từ phía người vợ cũ, mặc dù bà hiểu rằng Mura không chỉ chiếm chỗ trung tâm ở bàn ăn, mà cả chỗ trong trái tim ông chủ.
Đại văn hào Maxim Gorky trước hết là một người đàn ông. Ông biết mình đã yêu Mura. Có lẽ Gorky cũng biết đây là tình yêu cuối cùng, vì mặc dầu mới 52 tuổi, nhưng ông đã mất một bên phổi, còn lá phổi kia đã bị thuốc lá tàn phá gần hết. Sức mạnh tinh thần kỳ lạ tiềm ẩn trong người cô khiến ông phải khâm phục, và Mura ngày càng trở nên quý giá hơn đối với Gorky. Ông hỏi chuyện cô về chồng, về Lockart, nhất là về hai đứa con của cô vẫn đang ở một làng quê nào đó trên tận Estonia. Ông cứ tưởng cô sẽ cầu xin giúp đỡ, nhưng không, cô vốn không muốn nhờ cậy ai cả.
Tháng 9/1920, nhà văn nổi tiếng người Anh Herbert Walls đến Petrograd và nghỉ tại nhà Gorky. Mura đã gây được nhiều ấn tượng với nhà văn này. Ông nhớ lại: “Cô ấy khoác cái áo lính màu rêu đã cũ, mặc chiếc váy đã sờn màu đen, chiếc mũ rộng vành giống như chiếc tất dài của phụ nữ cuộn lại, nhưng tôi thấy vẫn tuyệt vời làm sao. Cô đút tay trong túi áo khoác, và tôi có cảm tưởng người phụ nữ này không chỉ dám thách thức cả thế giới, mà còn sẵn sàng lập lại trật tự trong đó. Cô được phân công làm phiên dịch cho tôi, nhưng rồi hiện ra trước tôi thật quyến rũ, tuyệt diệu. Tôi bập vào yêu nàng, săn sóc nàng, rồi một đêm, đáp lại lời cầu khẩn của tôi, nàng lặng lẽ băng qua những căn phòng đầy người trong căn hộ của Gorky đến phòng tôi, ngã vào vòng tay tôi…”.
Lúc đó Mura không biết được rằng, mối quan hệ tình cờ này nhiều năm sau đã có vai trò quan trọng thế nào đối với đời cô. Chỉ đơn giản, cô muốn thấy cảm giác có chút quyền năng nào đó đối với đàn ông, nhất là một người có ảnh hưởng và nổi tiếng như Herbert Walls. Dù vậy, cô vẫn giữ lòng trung thành với Gorky, không phải lòng chung thuỷ, mà là lòng trung thành cho đến khi ông mất…
Gorky sang Berlin, rồi tất cả cùng sang ý, thuê một biệt thự sang trọng tại Sorrento và sống ở đó vài năm. Mỗi năm hai lần Mura quay về thăm con. Cô được cả đại gia đình Gorky yêu quý, thậm chí cả người vợ chính thức của ông cũng vậy. Cô kịp làm mọi việc, mọi người đều thấy không thể thiếu cô, nhất là Gorky. Tình yêu của ông đối với cô thật mãnh liệt và khổ đau. Gorky cảm thấy Maria ngày càng xa cách với ông. Ông không biết rằng mỗi lần về thăm con, Mura đều ghé qua London với người tình xưa là Bruce Lockart.
Mùa hè năm 1925 Mura đưa con sang Sorrento chơi. Sau khi đưa bọn trẻ về lại Estonia một thời gian, cô viết thư gửi Gorky: “Em cảm thấy không còn yêu ông nữa…”. Sau khi quay lại với nhau mà khoảng cách giữa hai người ngày càng lớn, Gorky quyết định về Nga. Còn Mura sang London, mang theo rất nhiều bản thảo, thư từ của Gorky với nhiều người nổi tiếng. Điều này rất nguy hiểm cho Mura, nhưng cô vốn chẳng sợ ai, lần này cũng thế. Kho tư liệu này đã được Mura gìn giữ đến cuối đời, trước lúc mất bà đã huỷ những bức thư nguy hiểm nhất.
Tại London Mura thường gặp Lockart và Walls. Walls kiên trì theo đuổi Mura, muốn kết hôn với cô, nhưng lần nào cũng bị từ chối. Cô thường về Estonia với con và ghé qua Moskva thăm Gorky. Walls không biết chuyện này, nhưng vẫn ghen tuông hết độ với Mura về Gorky. Một lần qua thăm Liên Xô, đến nhà Gorky chơi, ông ta rất tức giận khi biết được bức tượng đồng để trên bàn làm việc của Gorky là do Mura tặng. Còn Maria vẫn tiếp tục đến với Gorky. Không ai biết đấy là gì- tình yêu, sự ràng buộc lâu năm hay lòng trung thành suốt đời. Một lần cô nói: “Walls không chịu bỏ qua một cái váy phụ nữ nào. Còn Gorky khi đã cùng với ai thì có cảm giác rằng đối với ông ấy không còn tồn tại những người phụ nữ khác, dù chỉ là trên lý thuyết”.
Mùa hè năm 1936, khi Gorky ốm nặng, Mura luôn ở bên ông. Ông đã chết trong vòng tay của cô.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 07:44 PM
http://www.moingay1cuonsach.com.vn/resources/minhchau/items/1239122103_30_vanhao100.jpg
Mặc dù từng phải vất vả, cực nhọc trong việc mưu sinh, song ngay từ thuở thiếu thời, văn hào Nga Maxim Gorky luôn tỏ ra là một cậu bé hiếu học, chăm chỉ việc đèn sách. Thật khó có thể liệt kê hết những đầu sách mà cậu đã ngốn ngấu đọc trong những năm tháng cơ hàn ấy. Bản thân Gorky sau này cũng có nhiều câu danh ngôn thể hiện tình yêu của ông đối với sách, cùng những đánh giá trang trọng về tác dụng của việc đọc sách.
Ấy thế nhưng, trong tư cách của người sáng tạo, đã có lúc nghiêm khắc nhìn lại những gì mình viết, Gorky đã buộc phải lên tiếng phê phán cái tác hại của việc… đọc nhiều, như thể với bản thân ông, nó là "con dao hai lưỡi".
Trong thư gửi danh họa Ilya Repin ngày 5/12/1899, nhân đề cập tới truyện ngắn "Người độc giả" ông sáng tác cách đấy 4 năm, Gorky đã thổ lộ rằng ông không hài lòng với mình vì đọc sách nhiều như vậy nên ông "đã mất mát rất nhiều những cái độc đáo, những cái của riêng tôi, những cái mà bẩm sinh tôi vẫn có". Với tư cách một nhà văn, ông nhận thấy mình "không tự do trong ý nghĩ của mình - cũng như nhiều người khác - nhiều khi tôi vận dụng những sự việc và những ý nghĩ mà tôi đã hấp thụ vào mình khi đọc sách của người khác chứ không phải đã được bản thân mình thể nghiệm bằng tâm hồn mình". Đến đây, Gorky nghiêm khắc đặt câu hỏi: "Sáng bằng một ánh sáng phản chiếu - như thế có xứng đáng với một con người hay không?". Và ông tự trả lời: "Không xứng đáng".
Dĩ nhiên chúng ta đều hiểu, cách đặt vấn đề của Gorky, nếu có đúng, thì chỉ đúng với một vài sáng tác của Gorky ở giai đoạn đầu, là thời gian ông thường xuyên nhận được sự chỉ bảo, thậm chí là chỉ trích của những bậc thầy nghiêm khắc như Lev Tolstoy và Anton Chekhov. Gorky từng kể lại rằng, buổi ông gặp Tolstoy và nghe Tolstoy "phán" về truyện "Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái" ông mới viết, thì thái độ của Lev Tolstoy làm ông cảm thấy như bị xúc phạm: "Đứng trên quan điểm thông thường mà xét thì lời lẽ của ông ta là cả một từ ngữ thô tục. Tôi đâm ngượng và thậm chí trạnh lòng nữa: Tôi tưởng ông cho tôi không đủ sức hiểu một thứ ngôn ngữ nào khác thế". Tất nhiên, Gorky là một người rất có bản lĩnh, ngay sau đó ông hiểu ra rằng "Trạnh lòng như thế là dại".
Có lẽ, vì từng được các bậc đàn anh "rèn rũa" một cách... khắc nghiệt như vậy nên sau này, khi đưa ra những góp ý, nhận xét về tác phẩm của các nhà văn trẻ, Gorky luôn thể hiện sự trân trọng người đối thoại.
Trong thư gửi nhà văn trẻ Ivanov, sau khi có một đôi ý kiến khuyên nhủ nhà văn trẻ, Gorky viết: "Anh hãy tin rằng đây không phải là lời khuyên của một nhà văn hay một ông thầy - tôi chưa bao giờ dạy ai viết văn với tư cách một nhà văn, xưa nay tôi chỉ nói với các nhà văn với tư cách một độc giả chăm chỉ, yêu văn học hơn mọi thứ trên đời".
Một lần khác, được hỏi về thi ca và sân khấu, Gorky bộc bạch: "Về nền thi ca và các nhà thơ lớn, thì tôi xin miễn nói đến. Tôi không phải là người am hiểu lĩnh vực này, tôi đã mất khả năng thưởng thức thơ ca, và phải khó nhọc lắm mới đọc được... Tôi cũng sẽ không nói đến sân khấu. Trước hết là tôi cảm thấy mình không hiểu mấy về ngành này, thứ đến là tôi rất ít đi xem kịch...".
Một con người vốn tri thức, vốn hiểu biết đời sống đầy mình, vậy mà khiêm tốn đến vậy, thật khác xa với những kẻ lĩnh vực nào cũng tỏ ra thông tuệ, hễ gặp ý kiến phản bác lại mình là tỏ ra giận dữ, gửi đơn từ kiện cáo khắp đây đó, coi người đối thoại với mình là hạ đẳng, rơm rác...
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 08:12 PM
“Những suy tưởng không hợp thời” (*) là một tác phẩm vô cùng quan trọng của Maxim Gorky: cho dù văn hào luôn được ca tụng và tôn vinh như người đứng đầu nền văn hóa vô sản Xô-viết, nhưng cuốn sách vẫn bị liệt vào hàng "cấm kỵ" ở Liên Xô trong thời gian rất dài.:chair:
http://nhipcauthegioi.hu/uploads/2007/images/1194642547.nv.jpg
Gorky cùng Stalin và Voroshilov (năm 1931)
Cùng hồi ký “Những ngày đáng nguyền rủa” của Ivan Bunin (1870-1953) và “Tận thế của thời đại chúng ta” của Vasily Rozanov (1879-1919), “Những suy tưởng không hợp thời” được coi là những trang viết kinh điển về Cách mạng Tháng Mười, cũng như về nước Nga, tâm thức Nga sau Cách mạng tháng mười 1917. Cả ba tác phẩm lớn này đều chỉ được ra mắt độc giả Nga sau thời “cải tổ” ở Liên bang Xô-viết, tức là sau khi chúng ra đời chừng bảy thập kỷ! Tại Hungary, cả ba được dịch và do Nhà xuất bản Châu Âu Budapest ấn hành năm 1997, dưới tựa đề “Tận thế - 1917: Các tác phẩm về cuộc cách mạng Nga” (Apokalipszis - 1917: Írások az orosz forradalomról).
Cách mạng Tháng Mười Nga và những gì diễn ra sau đó, cho dù đã trôi qua gần một thế kỷ, vẫn để lại dấu ấn rất mạnh mẽ trong đời sống xã hội và tư tưởng nước Nga, cũng như, vẫn là đề tài của vô số sách vở, hội thảo, nghiên cứu…. Đọc lại Gorky dưới một ánh sáng khác, một góc nhìn khác với những gì chúng ta thường quen thuộc ở ông xưa nay tại Việt Nam, cũng là một cách để nhìn nhận đa chiều về bài học lịch sử và những hệ lụy của biến cố lớn này của thế kỷ XX.
Bài viết sau đây về “Những suy tưởng không hợp thời” của nhà nghiên cứu văn học Hungary Szőke Katalin về “Những suy tưởng không hợp thời” là một phần “Lời bạt” cuốn sách trên.
*
Quan hệ của Gorky với Cách mạng tháng Mười hoàn toàn không một chiều. Thực chất, một số yếu tố nhất định của tiểu sử Gorky cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ (trong đó, có thể kể đến hoàn cảnh văn hào qua đời); sau năm 1917, chế độ Xô-viết có mối quan hệ phức tạp với Gorky: có lúc họ làm theo ý ông, có lúc bắt ông im lặng, có lúc tạo cho ông những đặc quyền ưu đãi, có lúc còn hạn chế tự do cá nhân của ông.
Vào năm 1917, có lẽ Gorky là nhà văn Nga nổi tiếng nhất trong nước cũng như ở nước ngoài. Ai cũng biết chẳng những Gorky có cảm tình, mà ông còn duy trì quan hệ với các lực lượng cách mạng. Năm 1901, Gorky viết “Bài ca chim báo bão”, tác phẩm cơ bản của dòng văn học lãng mạn cách mạng đầu thế kỷ. Năm 1905, ông tham gia tờ báo hợp pháp đầu tiên của đảng bôn-sê-vích - tờ “Novaya Zhizni” (Đời mới) -, lúc đó ông gặp gỡ lần đầu và làm quen với Lenin. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai người hoàn toàn không suôn sẻ. Từ 1906 trở đi, Gorky chịu ảnh hưởng tư tưởng của triết gia A. Bogdanov, ông cũng tin tưởng một cách nghiêm chỉnh rằng có thể dung hòa nền tôn giáo Nga với những ý tưởng cách mạng (thử nghiệm tìm đường mang tính tôn giáo của Gorky được phản ảnh trong tiểu thuyết “Người mẹ”). Vì lý do đó, Lenin đã có những lời lẽ phê phán đối với văn hào vì sự "ngây thơ" của ông.
Về thực chất, mối quan hệ giữa hai người trở nên đặc biệt căng thẳng trong thời gian trước Cách mạng tháng Mười. Gorky hồ hởi đón mừng Cách mạng tháng Hai và, cùng những người Xã hội Cách mạng cánh tả và những người có tư tưởng "quốc tế" (N. Sukhanov, A. Tikhov, V. Desnitsky), ngày 1-5-1917, nhà văn phát hành một tờ báo ở Petrograd, cũng lấy tên “Novaya Zhizni”. Tờ báo đặt mục tiêu bảo vệ nền dân chủ trong tinh thần cuộc Cách mạng tháng Hai. “Novaya Zhizni” chủ trương đa nguyên chính trị, đối lập với sự chuyên chế của các Xô-viết, phê phán chủ nghĩa bôn-sê-vích, thường xuyên tranh luận với tờ “Pravda” và vì thế, hậu quả là tờ báo bị cấm vĩnh viễn ngày 6-7-1918, theo chỉ thị của Lenin.
Với tựa đề “Những suy tưởng không hợp thời”, Gorky phụ trách mục chính trị và xã hội, xuất hiện hàng ngày trên tờ báo. Năm 1918, sau khi tờ báo bị cấm, ông phát hành loạt bài viết đó dưới dạng một tập sách ở Petrograd và Berlin. Nhiều bài viết được dịch ra các thứ tiếng ở châu Âu. Dễ hiểu là loạt bài “Những suy tưởng không hợp thời” chỉ được ấn hành ở Liên Xô vào cuối thời kỳ "cải tổ" và "công khai" của Gorbachev, mặc dù thiếu “Những suy tưởng không hợp thời”, không thể có một tiểu sử chân thực về Gorky và chúng ta sẽ khó lòng hiểu nổi sự hình thành thế giới quan của Gorky.
Từng bài viết trong loạt “Những suy tưởng không hợp thời” cho ta thấy hình ảnh xác thực về cuộc cách mạng Nga. Xét về phương diện văn học, chất lượng của chúng không đồng đều: có thể nhận ra đó là các bài viết vội vã bởi Gorky muốn đánh giá những sự kiện thường nhật và ông coi đó là điều quan trọng hàng đầu. Phong cách trong các bài viết cũng không đồng nhất, lúc quá nhiệt thành, ham mê, lúc quá giản lược, mang tính lên lớp, thậm chí đôi khi ông dùng giọng điệu quá thô tục, đại chúng.
Trong các bài viết của loạt “Những suy tưởng không hợp thời”, thái độ phê phán - thậm chí công phẫn - được tách rời rõ ràng với ước vọng không tưởng kiểu Gorky, hòn đá tảng trong thế giới quan của văn hào mặc dù ông có cái nhìn tỉnh táo trước hiện thực cuộc sống. Tư tưởng chủ đạo trong sự phê phán của Gorky trùng hợp với khẩu hiệu của những phong trào nhân quyền ở Nga và Đông Âu trong thời gian sau này. Nhà văn lên tiếng bảo vệ tự do ngôn luận và tự do báo chí, vốn được ông coi là những thành quả cơ bản của cuộc Cách mạng tháng Hai. Đồng thời, nhân danh đạo đức và thẩm mĩ, ông lên án giọng điệu sai sự thật trong báo chí mà ông gọi là "những bài viết nhỏ nhặt, bẩn thỉu", ở đó gia đình [Hoàng gia] Romanov bị mang ra chế nhạo. Gorky cũng lên tiếng phản đối những cuộc bắt bớ và bảo vệ sự đa nguyên chính trị khi ông được biết tin hai lãnh tụ đối lập thuộc Đảng Kadet (Shingaryov và Kokoshkin) bị thảm sát tàn bạo. Ông khắc họa nên một bức tranh khủng khiếp về sự bùng nổ của bản năng "vỉa hè" của đám đông hung bạo, về sự "tự xử" và những cuộc đàn áp, truy lùng. Gorky vạch trần đường lối lừa dối, mị dân của nền báo chí bôn-sê-vích, chỉ ra vực thẳm sâu sắc giữa phe bôn-sê-vích và nhân dân, và khẳng định: xét về thực chất, những người bôn-sê-vích thi hành một cuộc chiến chống nền dân chủ và giai cấp công nhân (trí thức). Rất đáng để ý đến những lời ông phê phán Lenin trong “Những suy tưởng không hợp thời”: Gorky là người đầu tiên cho rằng Lenin và Trotsky có nguồn gốc từ những nhà cách mạng cuồng tín vô chính phủ kiểu Bakunin - Nechayev (sau này, ý kiến đó được [triết gia] N. Berdayev phác họa vô cùng chính xác trong tác phẩm “Ý nghĩa và nguồn gốc của chủ nghĩa cộng sản Nga” của ông).
Trong công trình nghiên cứu về “Những suy tưởng không hợp thời” viết năm 1988, không phải ngẫu nhiên mà thi sĩ lưu vong nổi tiếng người Lithuania Tomas Ventslova đã nhấn mạnh: cần tìm kiếm những căn nguyên của tinh thần đối kháng với thể chế bôn-sê-vích (lập trường cơ bản của Gorky), cũng như sự gần gũi sau này của ông với chính thể Xô-viết, trong huyền thoại cá nhân và mô hình thế giới của văn hào. Huyền thoại cá nhân của Gorky đã được phác họa rõ rệt trong các truyện ngắn, các vở kịch viết đầu thế kỷ và các tiểu thuyết trước năm 1917 (“Foma Gorgeyev” và “Cuộc đời của Matvey Kozhemyakin”). Cơ sở của huyền thoại này là một mô hình thế giới khép kín, giản lược hóa và đa phần mang tính chiết trung, là hỗn hợp của chủ nghĩa Prometheus kinh điển thế kỷ XIX và các học thuyết của Nietzsche và Marx. Gorky chủ trương một mô hình thế giới trong đó nhân loại là trung tâm, nhưng ông đẩy quan niệm đó đến tận cùng: ở ông, con người là thước đo, là điểm đầu và điểm cuối của mọi sự việc. Gorky tin tưởng vô điều kiện và có phần ngây thơ vào quyền lực của trí tuệ, trong các tác phẩm của ông, trí tuệ và nghị lực trở thành những phạm trù huyền thoại. Nhà văn hy vọng vào khả năng vô giới hạn của sự tự thực hiện con người, vào sự tiến bộ, vào "quá trình lịch sử theo hệ thống" và ông dự cảm hình ảnh một tương lai, khi sự hòa hợp xã hội vĩnh viễn được thực hiện. Chính vì thế, văn hào có thiện cảm với những tư tưởng xã hội. Ở ông, chủ nghĩa xã hội (CNXH) được nâng lên tầm chân lý khoa học, nghĩa là ông coi CNXH như sự thực hiện một thiên đường hạ giới. Xét về kết quả cuối cùng, mô hình thế giới của Gorky được xây dựng dựa trên mô hình thế mạt học (eschatology) được thế tục hóa, cũng chính là đặc điểm của những lý tưởng dân chủ cách mạng không tưởng ở nước Nga thế kỷ XIX.
Thế giới quan nói trên quyết định một cách cơ bản cương lĩnh tích cực của “Những suy tưởng không hợp thời”. Theo Gorky, nguồn gốc của mọi vấn đề, của trạng thái mọi rợ và vô chính phủ tại "nước Nga được giải phóng" là sự vô học, dốt nát và thụ động, nghĩa là sự lười nhác của thể xác và tinh thần. Như thế, con đường tự giải thoát là sự tích cực, là công việc, cũng như sự "xây dựng văn hóa". Sau khi buồn phiền vì "ở Nga, ít người yêu lao động" - luận cứ chính của nhà văn chống lại chủ nghĩa bài Do Thái, là "hầu như công nhân Do Thái bao giờ cũng lao động cừ hơn người Nga" -, Gorky nhận định rằng không còn liều thuốc nào khác ngoài việc lao động có kế hoạch trong mọi lĩnh vực của đời sống: "chúng ta sẽ tạo nên xứ sở của những điều kỳ diệu nếu chúng ta làm việc một cách năng động" - ông viết. Cương lĩnh "xây dựng văn hóa"của Gorky dựa trên các nguyên tắc lý thuyết nhận thức, bởi lẽ theo suy nghĩ của ông, một nền văn hóa đích thực chỉ có thể đặt trên nền tảng khoa học, và nó phải vận hành theo tinh thần tiến bộ và tích cực. Mặt khác, Gorky đồng nhất sự phát triển văn hóa với hoạt động giảng dạy, giáo dục, với vẻ nhiệt tâm pha chút thống thiết, ông diễn đạt quan niệm trên trong “Những suy tưởng không hợp thời”, theo tinh thần của các nhà cách mạng thế kỷ XIX: "Nếu một cuộc cách mạng không có khả năng gây tạo một sự chấn hưng văn hóa cấp thời và có hiệu quả, thì, theo ý tôi, cuộc cách mạng đó bất thành và vô nghĩa, và chúng ta thì không có khả năng sống." Mặc dù văn hào có những nghi ngại rõ rệt về đạo đức, cách nhìn nhận không tưởng của Gorky khiến việc ông trở nên hòa giải với phe bôn-sê-vích về sau này là hợp lô-gích. Những bài viết cuối cùng trong loạt “Những suy tưởng không hợp thời” đã hướng theo chiều này.
Trong thời kỳ 1918-1919, Gorky đã làm nhiều việc giúp đỡ các đồng nghiệp, trong đời sống văn học, hầu như ông được coi như cả một "cơ quan". Nhà văn ủng hộ vật chất cho những nhà văn đói khát, ốm yếu, ông sáng lập Nhà xuất bản Văn học Thế giới, tại đó các đồng nghiệp có cơ hội làm việc. Tận dụng những mối quan hệ và uy tín của mình, Gorky đã cứu vãn và bảo vệ nhiều người vô tội khỏi "nanh vuốt" của [cơ quan mật vụ chính trị] Cheka. Lenin không hài lòng về điều này và viện dẫn lý do sức khỏe, ông đã thuyết phục văn hào định cư ở nước ngoài [đa phần ông ở Ý]. Chỉ đến năm 1931, Gorky mới trở về Liên Xô, lần này là vĩnh viễn.
Thực tế, đường lối văn học Stalinist đã sử dụng quan niệm không tưởng của Gorky để sáng tạo ra "chủ nghĩa hiện thực XHCN". Tuy nhiên, không phải lúc nào văn hào cũng tỏ ra là kẻ "thuận lợi" đối với chế độ. Chẳng hạn, Gorky khước từ viết sách về Stalin, tuy nhiên ông lại cất lời ca ngợi công trình xây dựng hệ thống kênh đào Bạch Hải mà ai cũng biết là do những người tù khổ sai thực hiện. Trong thập niên 30, bằng những phương tiện của mình, Gorky trên tư cách "nhà đối lập của Đức vua" đã tìm cách chống lại sự diệt trừ có phương pháp phe đối lập trong đảng và một số văn sĩ, nhưng không mấy kết quả. Trong những năm cuối đời, ông còn bị cấm rời thủ đô Moscow.
Năm 1930, khi chuẩn bị bản thảo cuối cùng bài viết “V.I. Lenin” trong đó văn hào so sánh Lenin với Nga hoàng Peter Đại đế và Leon Tolstoy, ông thú nhận: mười ba năm về trước, sở dĩ ông không đồng tình với những người cộng sản vì ông đã sai lầm khi đánh giá quá cao vai trò của giới trí thức, như lực lượng duy nhất có thể lãnh đạo nước Nga.
Câu chuyện sau đây, do một nhân vật ly khai Xô-viết thuật lại trong hồi ký và được Tomas Ventslova nhắc lại trong công trình nghiên cứu thế giới quan của văn hào, có thể bổ sung vào quan niệm "khải huyền" kiểu Gorky. Năm 1949, một sinh viên Leningrad bị bắt giam vì hoạt động đối lập và tòa án xin ý kiến giám định về tâm thần học. Bác sĩ tâm thần được cử đến, sau khi tìm thấy trong người anh sinh viên một bản thảo do anh viết trong thời gian nằm viện, dựa trên cơ sở đó, đã liệt anh sinh viên vào chứng đình trệ cuồng dại và hoang tưởng tự đại. Tập bản thảo là truyện thơ trữ tình của Gorky mang tựa đề “Con người” mà anh sinh viên đã thuộc lòng và viết lại không sai một chữ.
(*) Nguyên tác Nga ngữ: М. ҐОРЬКИЙ: Несвоеврменные мысли, đăng lần đầu trên tạp chí Литературное обозрение, số 9, 10, 12 năm 1988.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 08:21 PM
Nhà văn Nga Maxim Gorky (1868 - 1936), vốn được tôn vinh là "cây đại thụ của nền văn hóa vô sản", "bậc thày của nền văn học hiện thực XHCN Xô-viết", là một tên tuổi rất quen thuộc với độc giả Việt Nam.
http://nhipcauthegioi.hu/uploads/2007/images/1181167493.nv.jpg
Gorky và Leon Tolstoy tại điền trang Yasnaya Polyana
Đọc bộ tiểu thuyết tự truyện bộ ba "Thời thơ ấu", "Kiếm sống", "Những trường đại học của tôi", biết bao trái tim từng đồng cảm với cậu bé Peshkov (tên thật của Gorky), vật lộn, bươn chải với cuộc đời gian khổ và số phận phũ phàng, tự học để trở thành một "nhà văn chân đất" và một con người mang tư tưởng dân chủ cách mạng. Và cũng không ít thanh niên ở tuổi mới lớn, lên đường ra chiến trận với ấn tượng lãng mạn của "Bài ca chim báo bão", của chàng Danko bứt xé trái tim mình để rọi sáng con đường khổ ải và dẫn dắt đoàn người...
Gorky tham gia phong trào cách mạng Nga từ những năm còn rất trẻ, ông bị bắt giam lần đầu tiên năm 1889 vì những hoạt động đối lập và bị đặt dưới sự theo dõi thường xuyên của cảnh binh Nga hoàng. Năm 1905, văn hào tích cực tham gia "cuộc cách mạng thứ nhất" và gia nhập đảng bôn-sê-vích; ông ủng hộ đảng của Lenin bằng uy tín và tài sản của mình. Sau khi cuộc cách mạng bị đè bẹp, từ đầu năm 1906 trở đi, Gorky buộc phải rời nước Nga, ông qua Mỹ rồi sống nhiều năm lưu vong đảo Capri (Ý). Năm 1913, ông về nước trên cơ sở lệnh ân xá của chính phủ Nga hoàng và hoạt động tuyên truyền phản chiến ở Nga. Năm 1915, Gorky phát hành tờ tạp chí "Letopis", tập trung các nhà văn có tư tưởng dân chủ và tạo điều kiện đăng tải bài vở cho nhiều nhân tài trẻ.
Trong năm 1917 và sau cách mạng tháng Mười, Gorky có quan điểm đối kháng với chính thể bôn-sê-vích: trong loạt bài nổi tiếng "Những suy tưởng không hợp thời": ông nhìn nhận "cuộc cách mạng thứ hai" là một tấn thảm kịch; đồng thời, văn hào coi những người bôn-sê-vích là những kẻ thử nghiệm nguy hiểm và vô đạo đức. Thời kỳ nội chiến, mặc dầu tham gia một cách hình thức vào đời sống văn hóa "cách mạng" - như thành lập Nhà xuất bản Văn học Thế giới, phát hiện nhiều tài năng trẻ cho nền "văn học mới", làm báo... -, về thực chất, Gorky luôn là một cái gai trong mắt Lenin, tuy hai người vẫn duy trì một mối quan hệ rất gần gũi và mật thiết ở một mức nhất định.
Mối quan hệ nhiều khi gay gắt và mang tính đối kháng của Gorky với đảng bôn-sê-vích trước 1917 và với chính quyền Xô-viết trong và sau thời gian cách mạng tháng Mười, không mấy khi được giới nghiên cứu văn học Việt Nam thời xưa nhắc đến, vì nó làm hỏng bức tranh tổng thể về Gorky do bộ máy tuyên truyền văn hóa của Stalin đề ra. Tuy nhiên, , chúng ta cũng được biết một lời đánh giá "chính thống" trong bài phát biểu "Mac-xim Go-rơ-ki" của Nguyễn Khánh Toàn trong lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh văn hào tại Hà Nội tối 16-5-1968, đăng trên "Tạp chí Văn học" số 6 năm 1968:
"Con đường M. Go-rơ-ki đi theo chân lý cách mạng không phải luôn luôn trơn tru, bằng phẳng, không phải không có thử thách. Đôi lúc, khi con thuyền cách mạng gặp cơn sóng gió, có những bước gập ghềnh như sau khi Cách mạng 1905 thất bại, Sa hoàng khủng bố gắt gao, nhà nghệ sĩ cũng đã có những phút hoang mang dao động, thậm chí bi quan, và đã phụ họa vào những trào lưu duy tâm do một nhóm trí thức thiếu lập trường kiên định đề xướng. Hoặc trong những ngày bão táp của Cách mạng tháng Mười, khi cuộc đấu tranh giai cấp vô cùng ác liệt, chính quyền xô-viết mới ra đời, để bảo vệ sự sống còn của mình treo đầu sợi tóc, phải đối phó kiên quyết với những con thú dữ phản cách mạng trong và ngoài, thì M. Go-rơ-ki đã có những phút nao núng, có những cách nhìn lệch lạc, tàn dư chưa thanh toán của những tình cảm nhân đạo trừu tượng tiểu tư sản." (!)
Năm 1921, theo lời khuyên (thực chất: theo sự thúc ép - như chúng ta được biết sau này) của Lenin, Gorky ra nước ngoài, một phần để chữa bệnh. Về sau, quan niệm của ông thay đổi. Từ năm 1931 trở đi, văn hào trở về Liên Xô và đóng vai trò lớn trong việc thành lập Hội Nhà văn Liên Xô. Cùng nhiều văn nghệ sĩ khác, ông hy vọng Hội sẽ tạo nên bầu không khí hòa dịu trong văn giới, nhưng kỳ thực Hội Nhà văn Liên Xô chỉ là công cụ trong tay Stalin, và đã góp phần đáng kể trong việc gây dựng nền độc tài chuyên chính và sùng bái cá nhân của nhà độc tài. Ấy là chưa nói đến việc đầu thập niên 30, Gorky đã dẫn đầu một nhóm nhà văn đi thăm và ngợi khen các trại tập trung, các công trình xây dựng, nơi hàng triệu tù khổ sai bị đày đọa và chết dần mòn vì đói khát, khổ cực, làm việc nặng nhọc và tra tấn thể xác - đây là điều mà nhiều người mãi mãi không tha thứ cho văn hào.
Maxim Gorky lâm trọng bệnh và qua đời năm 1936 giữa những hoàn cảnh rất mờ ám. Năm ông mất cũng đồng thời là năm mở đầu thời kỳ "đại khủng bố" và "những vụ án Moscow" do Stalin lĩnh xướng.
*
Ngay từ khi còn sống, con người Gorky đã bị bao phủ bởi một màn sương mù dày đặc: để tận dụng uy tín lớn lao của ông trong giới văn nghệ sĩ Nga và trong giới trí thứ thiên tả quốc tế, bộ máy tuyên truyền của Stalin đã dựng nên một hình ảnh "chính thống" về Gorky, khác xa với những gì mà ông có.
http://nhipcauthegioi.hu/uploads/2007/images/1181167659.nv.jpg
Gorky (ngoài cùng, bên trái) cùng các lãnh tụ thượng đỉnh của ê-kíp Stalin (Kaganovich, Molotov, Voroshilov, Stalin, Kalinin) tại lăng Lenin
Đồng thời, vào giữa thập niên 30, khi thấy Gorky có một số biểu hiện "bất tuân phục" - như không chịu viết tiểu sử để tụng ca Stalin (vai trò ấy, sau này, được giao cho nhà văn Pháp Henri Barbusse), tìm cách liên lạc với những nhà văn ngoại quốc có tiếng như Romand Rolland, André Gide... để cảnh báo về họa độc tài ở Liên Xô... -, sự hiện diện của ông đã trở nên khó xử đối với Stalin. Không phải vô cớ mà nhiều người cho rằng ông đã bị Stalin hạ lệnh ám sát, ngay trước cuộc hội ngộ đã hẹn trước với văn hào Pháp André Gide ở Moscow, để tránh những "hậu họa" có thể xảy ra đối với chính thể độc tài. Điều đáng chú ý là Yagoda, trùm mật vụ chính trị Xô-viết, kẻ được Stalin cắt cử để theo dõi sát sao Gorky, cũng đồng thời là một "bậc thày" trong nghề giết người bằng độc dược.
Bài viết sau đây của Yuriy Annyenkov, đăng trên tờ "Literaturnaya Rossiya" (Văn học Nga) vào những năm đầu của thời kỳ cải tổ (cuối thập niên 80 thế kỷ trước), cho chúng ta thấy một chân dung đặc sắc, nhưng ít được biết đến, của văn hào Gorky. Đồng thời, nó cũng đưa ra một giả thuyết về nguyên nhân cái chết ám muội của nhà văn.
http://nhipcauthegioi.hu/uploads/2007/images/1181167790.nv.jpg
Dù người ta có kể gì đi nữa về Gorky - như về một đại diện của những tầng lớp khốn cùng ở Nga, về một thiên tài vô sản và về sự giản dị bẩm sinh, bản tính khiêm tốn vô sản của ông, về tính chất của một nhà tuyên truyền cách mạng [trong ông] và về niềm tin mác-xít nơi ông -, Gorky trong đời tư là một người có khiếu thẩm mỹ sành sỏi đặc biệt, ông tuyệt nhiên không xa lạ với những giai tầng xã hội khác, ông thích nếu được các nữ diễn viên xinh đẹp và những phụ nữ quý tộc bao quanh. Bằng nhận định này, không phải tôi muốn nói Gorky cần đến những thứ đó: [đơn giản] chúng chỉ làm ông thích thú. Chính ông, con người hào hoa trong cuộc sống và có những đức tính tinh thần tuyệt vời, đã có thể vươn cao hơn những định kiến giai cấp trong những năm cách mạng và đã cứu sống tính mạng, đôi khi cả tài sản, của nhiều thành viên thuộc giới quý tộc Nga.
Vào thời gian khi ông đã nổi tiếng, Gorky luôn mặc bộ đồ màu đen bằng dạ mịn, chiếc sơ-mi cài khuy bên và thắt chặt chiếc thắt lưng da. Ông có một đôi ủng cao và một chiếc mũ rộng vành lãng mạn che mái tóc. Cả thế giới biết đến hình ảnh "dân chủ" này của Gorky; nó góp phần vào huyền thoại Gorky. Nhưng nếu bá tước Leon Tolstoy - mặc dù xuất thân của ông - đã biến thành một người nông dân chân đất thực sự thì trang phục của chàng vô sản Gorky chẳng có vẻ gì là một trang phục công nhân hay nông dân, nó chỉ là một bài thơ quần áo mang tính cá nhân và trang hoàng. Dầu vậy, bộ trang phục Nga giả hiệu của ông đã nhanh chóng trở thành một thứ "mốt" trong thế giới văn nghệ xuề xòa và trong những nhóm thanh niên cách mạng, nó còn đọng lại nơi đó ngay cả khi Gorky đã từ bỏ nó, chỉ giữ lại chùm ria mép nổi tiếng, từ ngoại hình trước kia của ông.
Gorky luôn luôn mất bình tĩnh, [thậm chí] ông còn đỏ bừng mặt mũi mỗi khi phải viết một cái gì đó nhẹ nhõm, vui đùa, hài hước. Mặc dù trong đời sống thường ngày ông thích vui đùa và cười cợt, ông thực sự cảm thấy sợ hãi, run rẩy nếu phải viết ra giấy.
Vậy mà sau cách mạng, ông nhanh chóng viết vở kịch "Sofoshov hổn hển", tác phẩm trào phúng về một anh chàng Xô-viết thích ba hoa bẻm mép, anh ta gây dựng bước đường công danh nhanh như chớp nhờ tài hùng biện khoác loác. Đạo diễn Konstantin Milashevsky nhiều lần mời tác giả đi dự những buổi tập dượt, nhưng Gorky, ngượng ngập vì tác phẩm vui nhộn của mình, đã từ chối.
Tôi có mặt trong buổi tổng diễn tập và buổi diễn đầu tiên, được tổ chức ở Nhà hát Bách thú Petrograd. Đạo diễn Milashevsky đã dàn dựng rất ý nhị và sắc sảo... Khán giả nồng nhiệt đón chào vở kịch, nhưng nó chỉ được trình diễn vỏn vẹn trong ba ngày: những kẻ được gọi là các "đồng chí chịu trách nhiệm" đã nhận ra [hình ảnh của] mình trong nhân vật Sofoshov. Vở kịch của Gorky là tiền bản độc đáo của "Con rệp" của Mayakovsky, nhưng vở đó chỉ ra đời chín năm sau...
Gorky hoàn toàn không có lòng ghen tị nghề nghiệp, vốn rất đặc trưng cho những người làm văn học. Ông rất vui mừng khi phát hiện và nâng đỡ các tài năng mới trong văn học. Điều này đã thực sự trở thành một sở thích điên cuồng luôn ám ảnh ông và đôi khi, nó có một kết cục hết sức bất ngờ. Ở Kuokkala, ngay từ thời gian trước Thế chiến thứ nhất, có một thanh niên hỗn hào, tóc rối bù, ăn vận bộ trang phục kiểu Gorky xuất hiện quanh nhà Gorky, anh ta đọc cho Gorky nghe vài mẩu trong tác phẩm của mình. Gorky tin rằng gặp được một tài năng, ông chiều chuộng và còn đề nghị anh ta cùng ông tham gia một đêm Gorky do ông tổ chức tại một nhà hát nhỏ địa phương, nhằm ủng hộ một hoạt động gì đó của đảng Xã hội Dân chủ. Trong giờ nghỉ, vào đúng giây phút thích hợp, anh chàng tóc rối nẫng cả món tiền khỏi quỹ và tẩu thoát. Không ai gặp lại anh ta, trong đời cũng như trong văn học.
Tuy nhiên, cũng có những nhà văn mà Gorky thù ghét. Chẳng hạn, ông coi Ilya Ehrenburg là "ký sinh trùng".
Gorky có phải là đảng viên cộng sản không? Nếu có, thì cũng chỉ trong những năm cuối đời, nhưng tôi cũng không dám chắc.
- Tôi thuộc loại quẩn quanh bên đảng - ông thích nói như thế.
Và điều này cũng đúng. Ông lang thang vô định quanh đảng, lúc thì bên phải, lúc thì bên trái [so với] đường lối của đảng, lúc chậm trễ, lúc quá vội vã. Giống như trong đời tư, ông cũng là một nghệ sĩ trong chính trị. Ông không thể chấp nhận được sự gắn bó bắt buộc, tính kỷ luật với một thứ chủ nghĩa nào. Ông coi lệ thuộc tinh thần là sự lăng mạ con người. Bằng những chệch hướng và dao động, ông muốn khiến đường kẻ thẳng trở nên nhân tính hơn.
Nhưng đồng thời, người bạn đường "quanh đảng" đó vô cùng hữu ích đối với đảng. Được quần chúng ưa chuộng và có tiếng tăm, ông đã phục vụ đảng một cách đáng kể. Rất lâu trước ngày cách mạng tháng Mười, ông đã ủng hộ đảng về mặt vật chất, khi đó đảng không có nguồn [tài chính] nào khác, trừ những cuộc "trưng dụng" thô bạo như những trò [cướp bóc] do Stalin thực hiện (1). Hơn mọi người khác, Gorky biết rõ cách "vòi tiền" những kẻ giàu có để "khích lệ những nhà dân chủ" và ủng hộ "các tổ chức chính trị hàng đầu"; cố nhiên, những khi ấy không bao giờ ông nhắc đến tên đảng bôn-sê-vích. Những nhà đại tư sản, chủ xưởng, chủ ngân hàng có tư tưởng tự do, vốn mừng rỡ vì được quen biết đại văn hào, đã không thể chối từ và Gorky chuyển tiền của họ cho Lenin. Khi cuộc cách mạng bùng nổ, những kẻ có lòng từ thiện ngây thơ nói trên trở thành những nạn nhân đầu tiên. Đáng phải nhớ đến bài học này...
Gorky không giấu nổi nỗi thất vọng, ông bảo tôi:
- Biết làm sao được? Tiến trình lịch sử là thế.
Cuộc đời Gorky không bằng phẳng, [ngược lại, nó] luôn căng thẳng và phức tạp. Và nghệ thuật của ông cũng vậy. Ông viết cuốn "Thời thơ ấu" đáng được gọi là thiên tài, nhưng ông cũng còn viết "Bài ca chim báo bão" khá vô vị (điều này, chẳng hạn, không bao giờ có thể xảy ra đối với Dostoyevsky). Đáng tiếc là những tác phẩm xuất sắc nhất của Gorky hoàn toàn không được ưa chuộng như những cuốn tồi nhất. Nghệ thuật là như thế!
Năm 1936, Gorky từ trần ở Liên Xô. Bí ẩn cái chết của ông cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, cũng bởi trong một thời gian dài, người ta lan truyền giả thuyết về "âm mưu tội lỗi" của các bác sĩ, một việc chưa bao giờ xảy ra.
Tôi tin [vào lời] giáo sư Pletnyov, người thày thuốc lỗi lạc đã chữa chạy cho Gorky cùng các bác sĩ khác. Những lời lẽ của ông trùng với giả thuyết của Trotsky (2):
"Chúng tôi chữa bệnh tim mạch cho Gorky, mặc dù ông không yếu lắm về thể chất: ông bị dằn vặt về tinh thần thì đúng hơn và càng ngày ông càng tự buộc tội mình. Ông đã cảm thấy ngạt thở ở Liên Xô. Ông rất muốn quay trở lại Ý. Thực chất, ông trốn chạy bản thân vì ông không còn sức phản kháng một cách đáng kể. Nhưng nhà độc tài đa nghi của điện Kremlin sợ nhất việc văn hào lừng danh có thể lên tiếng chống lại thể chế của ông ta. Và cũng như mọi khi ông cần, ông ta lại tìm thấy thứ công cụ hiệu quả nhất. Lần này, thứ công cụ ấy là một hộp kẹo màu hồng được thắt ngang bởi một sợi dây lụa sặc sỡ. Đây không còn là một hộp kẹo [đơn thuần], mà là một đồ vật tuyệt diệu. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ nó. Gorky để nó ở chiếc tủ con đầu giường bệnh. Ông muốn mời khách khứa đến thăm; lần này, ông đưa cho hai y tá làm việc ở đó và chính ông cũng ăn vài chiếc kẹo. Một giờ sau, cả ba người đều cảm thấy đau quặn vùng dạ dày và sau một giờ nữa thì cả ba đều chết. Chúng tôi giải phẫu tử thi ngay lập tức và kết quả đã chứng tỏ dự đoán xấu nhất của chúng tôi. Họ đã bị đầu độc.
Các bác sĩ chúng tôi đều im lặng và chúng tôi cũng không phản đối ngay cả khi điện Kremlin thông báo một thuyết chính thức, hoàn toàn bịa đặt, về cái chết của Gorky. Tuy nhiên, điều đó cũng không cứu vãn chúng tôi. Ở Moscow, người ta bắt đầu thì thầm rằng Gorky bị ám hại: Soso đầu độc ông. Những lời đàm tiếu đó vô cùng phiền phức đối với Stalin. Phải đánh lạc hướng sự chú ý của nhân dân, phải tìm ra những tên tội phạm khác. Cố nhiên, đơn giản nhất là đổ vấy [mọi tội lỗi] cho các bác sĩ. Các thày thuốc bị giam trong ngục, họ bị buộc tội đầu độc Gorky. Rằng tại sao họ lại làm điều này ư? Một câu hỏi ngu xuẩn! Cố nhiên là theo sự ủy nhiệm của bọn phát-xít và những thế lực tư bản độc quyền. Kết cục ra sao, ai nấy đều đã biết..."
Giáo sư Pletnyov bị kết án tử hình; sau này, bản án được thay bằng 25 năm tù khổ sai trong trại tập trung. Tại Vorkuta, một vùng quê lạnh lẽo, cây cỏ trơ trụi và bùn lầy ở một nhánh sông chảy ra Bắc Băng Dương, năm 1948 (tức 12 năm sau ngày Gorky qua đời) Pletnyov gặp gỡ Brigitte Herland, một phụ nữ gốc Đức, ít lâu sau trở thành y sĩ trong bệnh xá trại giam do Pletnyov điều khiển. Vài tháng sau Pletnyov kể cho cô biết sự thật về cái chết của Gorky. Sau khi được thả tự do, năm 1954, Brigitte Herland công bố câu chuyện của giáo sư Pletnyov (khi đó ông đã mất).
Chú thích:
(1) Stalin đã tổ chức và tham gia nhiều vụ cướp ngân hàng, mang danh "lấy tiền cho đảng". Tình trạng này đã có lúc lên đến mức báo động, khiến Lenin phải ra chỉ thị cấm các vụ "trưng dụng" tương tự.
(2) Trotsky đặt nghi vấn Gorky đã bị đầu độc.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 08:30 PM
http://tapchinhavan.vn/UserFiles/Image/imagesCAPW4IA0.jpg
Cách đây 77 năm, tháng 8/1934, tại Moskva đã diễn ra Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất. Đây là một đại hội hết sức quan trọng nhằm quyết định việc thành lập Hội Nhà văn Liên Xô, đồng thời vạch ra những phương hướng phát triển của nền văn học Xôviết trong tương lai. Dưới đây là bài viết của TSKH ngữ văn Nga Vyacheslav Savatyev về vai trò của M. Gorky đối với sự kiện trọng đại này.
Như chúng ta biết, với cuốn tiểu thuyết Người mẹ sáng tác từ năm 1905, Maxim Gorky được xem là người sáng lập ra trào lưu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng tháng Mười thành công, dù sinh hoạt ở trong nước hay khi ra nước ngoài chữa bệnh, Gorky luôn luôn đau đáu với việc xây dựng nền văn hoá mới. Ông chủ trương thành lập Nhà xuất bản Văn học thế giới, Tủ sách của nhà thơ…góp phần nâng đỡ, giới thiệu tác phẩm của các cây bút trẻ có triển vọng. Không phải ngẫu nhiên mà Gorky được xem như “bà đỡ” mát tay của không ít tác giả trẻ, và về việc này người Nga đã có một nhận xét đầy hình tượng về ông: “Nhiều nhà văn trẻ thành danh sau này đều chui ra từ ống tay áo của Gorky”.
Tuy nhiên, là người trải đời lại luôn luôn theo sát tình hình văn học trong nước và thế giới, Gorky sớm nhận ra căn bệnh của một số nhà văn thời ấy, đặc biệt là bệnh “ngôi sao” và bệnh phe phái. Trong bài viết Bàn về chỗ đứng (1933), ông đã lên tiếng cảnh báo: “Những nhóm người có cảm tình với nhau hình thành, chê bai nhóm người không ăn ý với mình, rồi báo Văn học lại đối đáp theo kiểu ấy với nhóm này, và cả cái mớ lộn xộn không ra thể thống gì ấy lại được gọi là “sinh hoạt văn học”. Và Gorky nghiêm khắc: “Cần phải hiểu rằng những cái vụn vặt trong sinh họat có thể biến chúng ta thành những tên ăn bám của giai cấp công nhân, thành những tên hề của xã hội như đa số những nhà văn của giai cấp tư sản”.
Ở đây cũng cần nói thêm: Từ những năm 20 của thế kỷ trước, quá trình văn học ở Liên Xô đã phát triển một cách gần như tự phát. Các trường phái, trào lưu (từ Vị lai đến Cấu trúc luận…) và các tổ chức văn học – nghệ thuật vô sản như VOAPP (Hội liên hiệp các nhà văn vô sản toàn Nga), RAMP (Hiệp hội các nhạc sĩ vô sản Nga), RAPP (Hiệp hội các nhà văn vô sản Nga)… đã nối nhau ra đời. Cho đến giữa những năm 30 thì thì sự tồn tại của các nhóm văn học này phần nhiều đã lỗi thời, và các thói tật mà Gorky phê phán dường như trở nên phổ biến. Đặc biệt, cuộc tấn công của RAPP vào “những kẻ đồng hành” đã trở thành các yếu tố không những không hỗ trợ mà còn kìm hãm sự phát triển văn học.
Đó chính là lúc ý tưởng về một Hội sáng tạo thống nhất (tức Hội Nhà văn Liên Xô sau này) đã được đa số các nhà văn nhất trí thông qua.
Trước thềm đại hội thành lập Hội Nhà văn Liên Xô, M.Gorky chủ động viết thư cho Stalin, nêu một số nhận xét và kiến nghị. Nhà đại văn hào còn đề nghị vị lãnh tụ đọc giúp và cho ý kiến về bản báo cáo mà ông sẽ trình bày tại đại hội để kịp thời sửa chữa. Trong bức thư Gorky lên tiếng phản đối những mưu toan “chỉ huy” văn học của các cán bộ đảng riêng lẻ, cũng như của một số nhóm nhà văn, trong đó có Fadeev, Gladkov – hai nhà văn trẻ đang nổi như cồn bởi những tác phẩm có tính cập nhật là tiểu thuyết Chiến bại và Xi măng. Theo Gorky thì Fadeev đang “đóng vai một lãnh tụ văn học, mặc dù đối với ông ta tốt nhất là đi học”. Còn Gladkov thì được ông xếp vào hạng “những con người già nua về trí tuệ”.
Cũng trong bức thư nói trên Gorky nhắc đến hai đại diện của “các nhà văn lứa tuổi ba mươi” là Vishnevsky và Libedinsky mà theo ông không thể là những người lãnh đạo của nhóm “các nhà văn ngoài Đảng”. Lý do: “những người này quá tham lam hưởng thụ cuộc sống, quá vội vã tiêu khiển và không thích làm việc một cách tận tâm”.
Theo các nhà nghiên cứu, việc nhận xét những đồng nghiệp văn học của mình một cách gay gắt như vậy, nói chung không phải là bản tính của Gorky. Đó chẳng qua là vì trách nhiệm quá nặng nề buộc ông nói ra những điều dự cảm mà thôi.
Cuối bức thư, Gorky bày tỏ sự mong mỏi những người đứng đầu Hội Nhà văn Liên Xô phải là “một ban lãnh đạo hết sức vững vàng về tư tưởng”. Và, thật bất ngờ, bản thân Gorky xin “được giải phóng” khỏi ban lãnh đạo đó.
Có thể nói, những nhận xét, khuyến nghị trực tiếp và thẳng thắn này của Gorky có một sức nặng lớn, thể hiện rõ thái độ của ông đối với sự phân bố lực lượng đã hình thành trong quá trình văn học những năm đó. Chưa hết, thái độ của ông còn được phản ánh rất đáng kể (ở hình thức này hay hình thức khác) trong quá trình chuẩn bị và tiến hành đại hội.
Báo cáo của Gorky tại Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất nổi bật bởi tính chất rộng rãi của các quan điểm đối với các hiện tượng văn hoá trong thế giới đương đại. Đó là một cuộc trò chuyện tự do, cởi mở – sự lập luận về những vấn đề phát triển văn hoá trên thế giới, về vai trò của nó trong xã hội. Trong văn cảnh của câu chuyện đó, những ý tưởng về sự khủng hoảng của “thế giới cũ”, về hiểm họa của những cơn dịch hạch phát-xít, về niềm tin chân thành vào tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Nga… đã được trình bày một cách chặt chẽ. Tính chất rộng rãi của các quan điểm, sự độc đáo và chín muồi của thế giới quan, khả năng biết trò chuyện với chính quyền một cách bình đẳng và biết bảo vệ (trong một chừng mực nào đó) quyền lợi của giới trí thức nghệ thuật là thế mạnh của Gorky, nó cho phép ông hoàn thành vai trò khó khăn và quan trọng của một nhà tổ chức văn học, một người môi giới, người tập hợp, liên kết các lực lượng văn học, khiến bài phát biểu của ông luôn bị ngắt chừng bởi những tràng vỗ tay.
Một trong nhưng vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Đại hội Nhà văn Liên Xô lần thứ nhất là thái độ đối với di sản văn học cổ điển và sự lựa chọn “những người thầy”.
Trước vấn đề này Gorky giữ vai trò của người “phản biện” khi ông đưa trường hợp Dostoyevsky ra phê phán.
Theo Gorky, Dostoyevsky là người đã “lý tưởng hoá chế độ nông nô ở Nga”. Mặc dù vẫn thừa nhận thiên tài văn học của Dostoyevsky, song với ông, nhà văn này “dễ được hình dung trong vai quan tòa giáo hội trung cổ”. Chính ông ta “có lỗi trong việc để một bộ phận trí thức Nga sau cuộc cách mạng 1905 – 1906 quay từ chủ nghĩa cấp tiến, dân chủ, sang phía bảo vệ thể chế tư sản”. Cách nhìn nhận này của Gorky đã được nhiều đại biểu tham dự đại hội tán thành. Mặc dù ngày nay, cách nhìn nhận trên về Doystoyevsky có phần chưa thật thoả đáng, song đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ, nó là cái ngưỡng để xác định thái độ của các nhà văn đối với Cách mạng.
Trở lại với câu hỏi: Tại sao ý kiến của Gorky có uy lực như vậy? Theo phân tích của giới chuyên môn thì một mặt ông là “người nhà” của các nhà văn, bằng vai phải lứa; mặt khác, ông là người thầy, bậc sư phụ, vượt lên trên đám đông nhà văn bằng kinh nghiệm và tuổi tác của mình (mặc dù trong đại hội có những nhà văn cao tuổi hơn ông), nhưng cái chính là Gorky có những mối quan hệ lâu năm với những người Bolshevic, với Lênin, sự gần gũi với chính quyền và Stalin.
Dẫu sao Gorky được mệnh danh là “vĩ đại”, là “nhà văn vô sản vĩ đại nhất”, uy tín nhân cách và tác phẩm của ông là không thể chối cãi. Tất cả điều đó cho phép ông, hơn bất cứ kẻ nào khác, đảm đương vai trò phức tạp và quan trọng của một người trung gian, chiếc cầu nối giữa các nhà văn và chính quyền - vai trò mà ông đã thực hiện một cách tuyệt vời…
Bản thân Gorky cũng cảm nhận được điều này nên ngay trong bài phát biểu tại đại hội, ông đã nêu suy nghĩ của mình: “Các đồng chí kính mến, tôi có cảm tưởng rằng ở đây người ta nhắc quá nhiều đến cái tên Gorky kèm theo những tính từ chỉ kích thước như lớn, cao, dài … Các đồng chí có thấy rằng nêu bật và đề cao quá nhiều một con người như vậy, chúng ta sẽ làm lu mờ tầm vóc và ý nghĩa của những con người khác đi không? Dĩ nhiên, tôi không có thiên hướng muốn cào bằng tất cả theo lối “bình quân chủ nghĩa” trong một đất nước đã và đang sản sinh ra hàng ngàn anh hùng, nhưng lại đang cần đến hàng trăm ngàn mới đủ. Nhưng tôi e rằng nếu đề cao quá đáng một số nào đấy thì sẽ gây nên ở những người khác những cảm xúc và tâm trạng có hại cho công việc chung của chúng ta”.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 08:51 PM
Gorki (tên thật là Alêchxây Mắcximôvits Pêskôp), sinh ngày 28-3-1868 tại thành phố Nijni Nốpgôrốt (nay là thành phố Gorki) trên bờ sông Vônga trong một gia đình lao động.
http://www.nuocnga.net/uploaded/3/3213_gorki_1932.jpg
A.M. Gorki. Ảnh chụp năm 1932
Vì sớm mồ côi cha, Aliôsa (tên gọi thuở nhỏ của Gorki) phải sống ở nhà ông ngoại, giữa môi trường tiểu thị dân lạc hậu, hủ lậu; ở đây chỉ có một mình bà ngoại là người cảm thông với cậu và yêu quí cậu.
Mùa thu năm 1878, sau khi mẹ Aliôsa mất mấy ngày, ông ngoại đã đuổi cậu "vào đời mà kiếm sống". Từ đó Aliôsa bắt đầu một cuộc đời lao động vất vả. Do ảnh hưởng của những cuốn sách tốt mà cậu đọc say mê và môi trường lao động đã làm cậu khao khát trở thành một người hữu ích, nhưng điều này không phải là dễ. Năm 1884 Aliôsa Pêskốp đến Kazan để thi vào đại học nhưng khi đến thành phố này anh mới thấy rằng không thể nào thực hiện nổi ước mơ đó. Muốn có một mẩu bánh mì và manh áo mặc, anh phải lao động nặng nhọc, đêm đến thì vào ngủ trong các nhà trọ tồi tàn dành cho những người du thủ, du thực. Chính ở đây Pêskốp đã trải qua "những trường đại học" của cuộc sống. Anh có cảm tình với những người thợ, những thanh niên, sinh viên có tư tưởng cách mạng, nhưng anh còn quá xa lạ với họ. Ngày 22-12-1887, trong tâm trạng cô đơn, buồn chán, anh đã tự sát bằng súng lục, nhưng đã được cứu thoát.
Hè năm 1888 anh đã đi cùng với Rômát, một nhà cách mạng dân túy, về làng Kraxnôviđôvô để tuyên truyền cách mạng trong nông dân. Gặp sự chống trả quyết liệt của bọn nhà giàu, Rômát đã phải rời đi nơi khác, còn Pêskốp thì cùng với một người nông dân về miền biển Kaxpi làm nghề đánh cá. Một thời gian sau, từ đây anh lại băng qua các vùng đồng cỏ đến Xaritxưn (nay là Vongagrat) làm nghề cân hàng ở các ga xe lửa, và mùa xuân năm 1899 thì đi Matxcơva. Trên đường về thủ đô, trong hành trang của Pêskôp có một bài thơ dài do anh viết bằng lối văn xuôi "có nhịp điệu" lấy tên là Bài ca của cây sồi già. Tuy thế lúc này anh chưa hề mơ ước tới vinh quang của một nhà văn. Anh chỉ muốn có một chỗ yên tĩnh, một cái trại nho nhỏ để làm ăn sinh sống. Thay mặt những "trại viên" tương lai, Pêskốp đã viết thư xin L.Tônxtôi một mảnh đất hoang và đã tới nhà riêng của L.Tônxtôi ở Iaxnaia Pôla và Matxcơva, nhưng cả hai lần đều không gặp nhà văn vĩ đại này.
http://www.nuocnga.net/uploaded/3/3215_gorki_stal.jpg
Gorki và Stalin
Hết hy vọng về cái trại để làm ruộng, Pêskốp lại trở về thành phố quê hương. Lần này anh nuôi nhiều hy vọng về sáng tác văn học. Một ngày vào tháng 12-1889 anh đánh liều mang Bài ca của cây sồi già đến cho nhà văn Kôrôlencô xem nhưng "bằng mười tiếng gọn lỏn, Korôlencô đã phá tan tành cái vật bằng gỗ ấy". Sự thất bại này làm cho Pêskốp choáng váng. Anh quyết định sẽ không viết văn nữa. Đầu tháng 4-1891 Pêskốp bắt đầu một hành trình dài vạn dặm để tìm hiểu nước Nga. Khởi hành từ thành phố quê hương, anh đi xuôi về miền nam, vừa đi vừa lao động để kiếm sống. Cuộc hành trình qua những nẻo đường của nước Nga nghèo nàn và đau khổ đã để lại cho Pêskốp nhiều ấn tượng phong phú mà sau này anh sẽ dùng làm chất liệu để sáng tác văn học.
Tác phẩm đầu tiên của Gorki đã được đăng trên một tờ báo địa phương vào tháng 9-1892, sau đó là hàng loạt tác phẩm khác đã giúp ông trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Nội dung sáng tác của Gorki giai đoạn đầu đã toát lên hơi thở của một cuộc sống đang trăn trở do sự chuyển mình của đông đảo quần chúng bấy lâu nay vẫn âm thầm chịu đựng trong cái nhà tù khổng lồ là nước Nga Sa hoàng. Khi viết về những điều này, ông ý thức rất rõ rằng mình viết văn không phải để được mọi người ưa thích, mà để tác động tới ý thức của họ, để buộc họ đấu tranh cho một chế độ xã hội cao hơn. Theo Gorki, văn học cần miêu tả cuộc sống như nó cần phải có để khích lệ lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu của con người nhằm giành lấy tương lai tốt đẹp cho họ; văn học phải góp phần tạo ra những con người anh hùng đang rất cần cho thời đại cách mạng vô sản. Trong sáng tác của Gorki có những tác phẩm hiện thực, đồng thời có cả những tác phẩm lãng mạn. Tác phẩm lãng mạn xuất sắc nhất trong thời kỳ đầu của ông là truyện Bà lão Izarghin, viết năm 1894.
http://www.nuocnga.net/uploaded/3/3214_gorki_am.jpg
M.Gorki và các công nhân nhà máy ô tô, năm 1928
Giai đoạn từ 1905 đến 1916, Gorki sang nhiều nước như: Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Đức, Pháp, Mỹ... để tuyên truyền cho cách mạng Nga. Giai đoạn này, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Người mẹ, Dưới đáy, Những mẩu chuyện nước Ý, Bài ca chim ưng, Bài ca chim báo bão... Trong đó, vở kịch Những kẻ thù và tiểu thuyết Người mẹ là hai tác phẩm đặt nền móng cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Gorki là nhà nghệ sĩ của cách mạng vô sản. Ngày nay, sáng tác của Gorki vẫn là mẫu mực cho vấn đề xây dựng con người mới trong thời đại mới.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 09:10 PM
Ở thế kỷ XIX, không có nhà triết học lớn nào, nhà văn lỗi lạc nào mà không viết hay, viết có hệ thống về con người và vị thế của con người hiện hữu trên hành tinh. Là một nhà Macxit lớn là "bậc tài hoa của nghệ thuật vô cùng lỗi lạc" (V.I.Lênin), Gorki đã viết vừa có hệ thống, vừa sâu sắc về con người và nguồn lực con người.
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRmdIch5gKHeEdzozhmelipZHUjLT-NF6nfU0esNLavW_J7fYs4iw
Trong bài thơ triết lý nổi tiếng Con người (1904) M.Gorki đã đưa ra một luận điểm hào sảng: Tất cả ở trong Con người, tất cả để cho Con người... Với cảm nhận của chúng tôi, Gorki là đồng nghĩa với nước Nga, với con sông Vônga, với con người Nga. ông yêu mến nước Nga quá đỗi và hiểu biết nước Nga tường tận, cho dù có lúc vì đau đớn mà ông chưa thật công bằng, thậm chí nặng lời với một bộ phận người Nga. Gorki không chỉ là nhà văn lớn, mà còn là nhà triết học, nhà văn hoá kiểu mới, nhà dân tộc học. Trong ông cái gì cũng có tính dân tộc. Những lập luận của ông về dân tộc Nga, ngay cả những vết thương để lại trên trán của dân tộc ấy, đối với ông, là những kinh nghiệm lịch sử đắt giá.
Những điều mà chúng tôi dẫn giải ra dưới đây về vị thế và năng lực sáng tạo của con người, về những thuộc tính bản chất người, về nghệ thuật và nhu cầu tinh thần của con người đã được Gorki phát biểu một cách có hệ thống trong văn chính luận, bút ký, thư từ trong các thể loại văn chương, trong kịch bản văn học... sẽ giúp chứng ta hiểu thêm minh triết của nhà văn lớn nước Nga về con người và nguồn lực con người - động lực hùng hậu của phát triển.
Năng lực sáng tạo của con người
Ở thế kỷ XIX, không có nhà triết học lớn nào, nhà văn lỗi lạc nào mà không viết hay, viết có hệ thống về con người và vị thế của con người hiện hữu trên hành tinh. Là một nhà Macxit lớn là "bậc tài hoa của nghệ thuật vô cùng lỗi lạc" (V.I.Lênin), Gorki đã viết vừa có hệ thống, vừa sâu sắc về con người và nguồn lực con người. Có nhiều luận điểm được ông lý giải từ bấy giờ (vào khoảng mười năm cuối thế kỷ XIX đến những năm 80 thế kỷ XX) mà cứ tưởng như mới viết hôm qua. Từ những bức thư gửi I.Rêpin (1899), gửi A.Tsêkhốp (1900), sau đó là bài thơ Con người (1904), Truyền thuyết về người mẹ (1912) cho đến những tiểu luận Văn học Xô Viết (1984). Nền văn học của chúng ta, nền văn học có ảnh hưởng nhất trên thế giới (1985)... con người với tư cách là một nhân vị có những phẩm chất mang giá trị văn hoá bền vững là động lực của phát triển, đã được nhà văn lý giải một cách sâu sắc: "Con người là kẻ mang trong mình năng lực tổ chức thế giới, kẻ sáng tạo ra "Thiên nhiên thứ hai", sáng tạo ra văn minh. Chính bản thân con người là một bộ phận của thiên nhiên và dường như được tạo ra để giúp cho thiên nhiên tự nhận thức về mình và cải tạo mình" (II, tr.174). Như vậy, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là hoà hợp, là phụ thuộc lẫn nhau, chứ không có chuyện đấu tranh chống thiên nhiên. Sự khôn ngoan của con người chính là ở chỗ biết làm cho thiên nhiên "ngoan ngoãn" để "phục vụ con người. Trong một bức thư gửi danh họa I.Rêpin vào tháng 01/1899, nhà văn đã tìm ra bản chất và ý nghĩa nhân vị của con người: "Tôi không biết còn có gì tốt đẹp hơn, phức tạp hơn, thú vị hơn con người. Con người là tất cả. Nó đã sáng tạo ra cả Thượng đế. Còn như nghệ thuật thì chỉ là một biểu hiện của tinh thần sáng tạo của con người, cho nên nó chỉ là một bộ phận của con người mà thôi..." (II, 478). Ở một chỗ khác nhà văn nói đến phẩm chất vạn biến năng lực sáng tạo vô song của con người, mới nghe có vẻ cực đoan, nhưng là cái cực đoan biện chứng: "Cả con người trong cuộc sống cũng tốt hơn con người trong sách, dù là sách hay. Nó phức tạp hơn" (II, 478). Sau đó một năm, khoảng tháng 2/1900, hình như để tranh cãi với những ai không đồng tình với ý tưởng khoẻ khoắn của mình, trong thư gửi Lép Tônxtôi, nhà văn Mác xít viết: "Con người là ngôi đền chứa đựng Thượng đế sống, và tôi quan niệm Thượng đế là xu hướng mãnh liệt vươn lên sự hoàn thiện, sự thật và công lý... Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, trên trái đất này, không có gì hơn con người nữa, thậm chí tôi còn đảo ngược câu của Demôcrit mà nói rằng, chỉ có con người tồn tại, còn tất cả những thứ khác chỉ là ý kiến mà thôi (II, 482).
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSSiz3eZcglzU3V2sVJYgkDmRe-VDRHXYTXhsYR3Ddw4tn_ViGWhg
Nói đến năng lực sáng tạo của con người, Gorki đặc biệt đánh giá cao di sản tinh thần và sức sáng tạo nghệ thuật của con người lao động. Trong mối quan hệ này, ông không chỉ là người say mê các tác phẩm truyền miệng dân gian, người sưu tầm những tư liệu nghệ thuật dân gian, người phát ngôn và bảo vệ những quan điểm mỹ học Mác xít về văn nghệ dân gian, mà còn là một nghệ sĩ biết vận dụng khéo léo những tri thức dân gian vào sáng tác của mình. Đằng sau những hình tượng lãng mạn như: Chim báo bão, Đancô, Chim ưng, những bối cảnh mang tính chất truyền thuyết... người nghệ sĩ vô sản muốn phát biểu một quan điểm triết học nhân sinh, khái quát một nội dung tư tưởng của thời đại, trình bày một lý tưởng tiên tiến, ca ngợi hành động anh hùng. Hình tượng Đancô là một ví dụ. Dựa vào chất liệu của nhũng truyền thuyết lịch sử thời đại về những tráng sĩ cướp biển vùng Xcăngđinavơ, Gorki, trong nhiều truyện vừa đầu tiên của mình, đã giải quyết vấn đề quan hệ giữa người anh hùng và tập thể. Trong quan niệm của người cổ đại, những anh hùng như Hécquyn được đặt ngang hàng với các vị thần, Prômêthê là sản phẩm của sự xung đột giữa người và thần linh, là biểu hiện niềm tin của con người vào sức mạnh của mình. Khai thác quan điểm mỹ học cổ sơ, Gorki đã xây dựng những hình tượng anh hùng không kém phần đồ sộ, cường tráng, phi thường, có hoài bão lớn, đi tiên phong trong mọi hoàn cảnh. Khảo sát chất liệu truyền thuyết về nhân vật người anh hùng Đancô mà nhà văn đã được nghe từ thời thơ ấu ở vùng Đunai, Gorki, trong truyện Bà lão Idécgin đã khắc hoạ hình tượng chàng Đancô trẻ, đẹp, can đảm đã đưa hai tay rắn như thép xé toang lồng ngực, dứt trái tim ra và giơ cao trên đầu, trái tim cháy sáng hơn mặt trời, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng yêu thương vĩ đại đối với con người, để đưa đoàn người vượt qua rừng rậm, đầm lầy, đêm tối và giông bão gầm thét... Đoàn người đã đến được thảo nguyên bao la, nhưng Đancô đã gục xuống bên cạnh trái tim vẫn bừng bừng cháy đỏ...
M.Gorki phát biểu một cách có hệ thống theo quan điểm của chủ nghĩa Mác với tinh thần tôn vinh tối đa những sáng tạo nghệ thuật của nhân dân lao động. Nói đến sức mạnh và cội nguồn của sự sáng tạo văn hoá, ông viết: "Nhân dân không chỉ là sức mạnh sáng tạo ra mọi giá trị vật chất, mà còn là cội nguồn duy nhất và vô tận của những giá trị tinh thần. Nhân dân là nhà triết học và là nhà thơ đầu tiên, kể về thời gian cũng như vẻ đẹp, về thiên tài đã sáng tạo ra tất cả những thiên trường ca vĩ đại, những vở bi kịch trên trái đất ...". Ông quả quyết: "Nghệ thuật nằm trong tài năng cá nhân, nhưng chỉ có tập thể mới có khả năng sáng tạo. Chính nhân dân đã sáng tạo ra thần Dớt rồi sau đó Phiđiax mới thể hiện nhân vật này trong khối cẩm thạch" (I, 66). Và một đoạn khác: "ôtenlô cả ghen, Hămlét do dự, và Đông Juan dâm đãng đều là những nhân vật điển hình mà nhân dân sáng tạo ra trước Sếchxpia và Bairơn ..." (I, 68).
Những thuộc tính của con người
Vào thế kỷ XIX, F.M. Đôtxtôiepxki có một nỗi niềm băn khoăn bám riết lấy nghề văn của ông: "Con người là một bí ẩn". Có thật vậy không? Nếu con người hết bí ẩn, liệu có còn con người nữa không? Tất cả câu hỏi đó đang đặt triết học đối mặt với những vấn đề có tính toàn cầu, trong đó có việc nghiên cứu con người: cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, lý trí và tình cảm, trí tuệ và bản năng, lý tưởng và tính dục, nhân vị và siêu nhân, thân phận con người và giá trị người ...Trong dòng chảy triết học văn hoá đó, người ta tìm thấy nhiều triết thuyết, nhiều khuôn mặt triết gia nổi tiếng, trong đó có M.Gorki, mà theo tôi, khoa học triết học ít nghiên cứu về ông. Gorki khái quát tương đối sâu sắc và tương đối toàn diện những thuộc tính của con người, điều mà hiện nay khoa học nghiên cứu về con người khái quát thành ít nhất 4 bình điện: con người sinh học, con người xã hội, con người tâm lý và con người tâm linh. Căn cứ vào những luận điểm, những ý tưởng của Gorki về những thuộc tính của con người qua mọi thời đại, chúng tôi phỏng đoán sự sắp đặt những thuộc tính đó có mối quan hệ như sau: Trí tuệ và bản năng con người, con người là một nghệ sĩ, và linh tính con người.
Trí tuệ và bản năng
Nếu sự sống là vô tận, là sự vận động đầy phức tạp, biến động để tiến tới sự hoàn thiện tinh thần, thì sự phát triển của từng con người phải là sự phát triển song trùng giữa trí tuệ và cảm xúc, giữa lý tính và trực giác, giữa lý trí và bản năng. Gorki viết: "Quá trình phát triển văn hoá xã hội của con người chỉ phát triển bình thường khi nào hai bàn tay dạy cho khối óc, rồi sau đó khối óc đã thông minh hơn lại dạy cho hai bàn tay, đến lượt hai bàn tay thông minh hơn lại góp phần xúc tiến mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của khối óc” (II, 260-261). Đó là quá trình phát triển văn hoá của con người ở thời cổ đại. Về sau, do nhiều lẽ, trước hết là do sự thống trị của một số người đối với nhiều người, xu hướng sống một cuộc đời nhàn hạ dựa vào sức lao động của người khác, đề cao sức mạnh cá nhân một cách quái gở phớt lờ quá trình lao động đang biến cải thế giới để phục vụ quyền lợi và mục đích của con người... Từ đó khối óc bị tách ra khỏi bàn tay, tư tưởng bị tách ra khỏi lao động. Đó là sự phát triển con người đi theo hướng sai lệch, phiến diện, chỉ riêng trí tuệ phát triển, còn bản năng thì bị bỏ quên. Điều đó rất có hại. Có lần tâm sự với danh hoạ Rêpin, nhà văn nói: "Phải làm sao cho trí tuệ và bản năng được kết hợp lại thành một tổng thể hài hoà ... Tôi không ưa những người thông minh, nhưng không biết cảm xúc. Tất cả những người như thế đều độc ác, và độc ác một cách hèn hạ ..." (II, 840-341).
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSef4OwlPNfIh3POusD9tSSmvC7iApEZ U4t4rry42_TVW7pY5h9jA
Con người là một nghệ sĩ từ trong bản chất "Trong toàn bộ hoạt động của mình, và nhất là trong nghệ thuật con người phải là một nghệ sĩ, nghĩa là phải đẹp và mạnh như Thượng đế. Câu đó được trích trong thư gửi Rêpin vào tháng 12/1889, có nghĩa là con người đã nỗ lực, sáng tạo tất cả những gì tất nhất, thông minh nhất, rực rỡ nhất trên hành tinh chúng ta. Nhận thức được ý nghĩa lao động là là cơ sở của văn hoá, Gorki ca ngợi những việc làm mang tính nhân bản của nhà văn Tsêkhốp với ý tưởng là làm đẹp quả đất, là xây dựng, làm vườn, trồng cây ăn quả, chăm chút khóm cây cảnh... cất sao trang điểm cho môi trường sống, thiên nhiên quanh ta ngày càng đẹp hơn. Trong con người Tsêkhốp, chất nghệ sĩ, chất thơ lao động bàng bạt trong nhiều truyện ngắn trong sáng như sự thật, lành mạnh như tình yêu chân chính, mà mỗi truyện như mỗi chiếc lọ pha lê trong vắt chứa đủ hương vị của cuộc đời. Nói chuyện về đỉnh cao lao động trí tuệ của con người, nhất là những thiên tài như V.I. Lênin, Lép Tônxtôi... Gorki thường không đối lập giữa thiên tài và đám đông, giữa đỉnh cao và đất bồi, không coi họ là những kỳ quan xa lạ, mà là biểu tượng của một cộng đồng, là tinh hoa của một dân tộc: Gần gũi, độc đáo, sâu sắc lạ thường. Về Lép Tônxtôi, nhà văn viết: "Xét cho cùng, ông vẫn là một dàn nhạc, nhưng trong dàn nhạc ấy, không phải là tất cả các nhạc cụ đều hoà hợp với nhau. Điểm này rất hay, vì nó rất người - nghĩa là rất đúng với đặc tính của con người" (II, 480).
Con người không chỉ có khả năng vận dụng quy luật trừu tượng hoá và cụ thể hoá những điển hình nghệ thuật, mà còn sáng tạo ra "Thượng để' - "Đấng toàn trí, toàn năng, thần thông quảng đại do khát vọng cao cả của nghìn đời. Thượng đế chỉ là "sự bịa đặt" của loài người được nảy sinh ra từ cuộc đời nghèo nàn cay cực vì nỗi lòng khao khát mơ hồ của con người muốn đùng sức mình làm cho cuộc sống phong phú hơn, nhẹ nhàng hơn, công bằng hơn và tất đẹp hơn ..." (I, 96-97). Đó là sự tư duy nghệ thuật vì Thượng đế ở đây được coi như một điển hình văn học. Nói bản chất con người là nghệ sĩ, Gorki đã chứng minh rằng, sự sáng tạo của "đám đông", chất liệu văn nghệ dân gian các dân tộc là tiền đề, điều kiện cho sự sáng tạo các tác phẩm cổ điển trên thế giới. Và trong các "đám đông" ấy, thời nào cũng vậy, đã sinh ra những nghệ nhân tài năng thiên phú, mà ở Nga là cụ bà giữa Andrêepna Phêđôxôva, 98 tuổi, mù chữ nhưng đã sắp xếp trong trí nhớ của mình khoảng 30.000 câu thơ Nga, dân ca Nga. Đó là một di sản khổng lồ của dân tộc Nga, còn trong Iliát của Hôme chỉ cung cấp 27.815 câu mà thôi.
Linh tính con người
Theo Gorki, linh tính là một trong những thuộc tính kỳ diệu của con người. Linh tính là sự phỏng đoán giúp nhà khoa học trong lúc khảo sát thiên nhiên, xã hội, con người, rút ra những kết luận thực tiễn một cách chính xác. Nhưng trên thực tế quá trình suy nghĩ của con người không đủ sức nắm được mọi hiện tượng, mọi sự quan sát của mình, nên con người tìm đến những khả năng mà lý tính bất lực. Dùng nhận thức logic, nghệ sĩ chỉ mới đưa lại một số kiến thức, thông tin, tư liệu. Sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi nghệ sĩ phải cầu viện trực giác, linh tính, giây phút thăng hoa. Sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi nghệ sĩ không chỉ tĩnh mà còn say, không chỉ suy lý mà còn đam mê, tưởng tượng, liên tưởng, linh cảm, vô thức, phi lý tính. Không thể, thì người đọc không sao hiểu được câu thơ: Tóc đài ba nghìn trượng, Vì sầu nên hoá dài (Thơ Lý Bạch), câu ca dao: Bắc cầu dải yếm qua trao ân tình, lời ngọt ngào của câu dân ca Tây Nguyên: Mái nhà dài như một tiếng chiêng ... Còn trong khoa học, linh tính, sự phỏng đoán giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các giả thiết rời rạc, bổ sung cho từng đoạn quan sát bị đứt quãng thành chuỗi giả thiết có điều kiện để nhà bác học đúc thành giả thuyết. Trong lịch sử loài người, khoa học và nghệ thuật đã xích lại gần nhau, hỗ trợ lẫn nhau và gặp nhau ở điểm vận dụng linh tính. Không phải không có lý mà Anhxtanh quả quyết: "Trong tư duy khoa học luôn luôn có chất thơ. âm nhạc chân chính và khoa học chân chính đòi hỏi quá trình tư duy gần giống nhau”. Giả thuyết đó được thực hiện hoặc bằng các công trình nghiên cứu liên tục cho đến khi chúng ta nhận được lý thuyết khoa học thực sự, hoặc là thực tế sự kiện hay kinh nghiệm phủ định giả thuyết ấy.
Con người và tôn giáo
Khác với nhiều nhà thần học, nhà triết học chuyên viết có hệ thống về đề tài một tôn giáo nào đó, Gorki, khi thấy cần thiết phải tỏ rõ quan điểm duy vật lịch sử của mình, đã có những trang viết sắc sảo về tôn giáo, về Thượng đế, về Thần. Điều đó chúng ta đọc được trong một số tiểu luận: Văn học Xô Viết, Tôi đã học viết như thế nào? Về con người "bé nhỏ" và công việc vĩ đại của họ, truyện dài Lời thú tội (1907- 1908), Sự tan rã của cá tính (1909), Lại bàn về kiểu người Karamađơp (1913)...
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRJrCKkwavtVpQsNYm7qGF8WwSZCDhkB 5fx_66fvgSaFWQP5IABsQ
Bàn về sự xuất hiện tôn giáo, Gorki viết: "Tính chất bi thảm và sự khủng khiếp của đời sống xã hội hình thành lúc mà loài người đã phân chia thành chủ nô và nô lệ. Đó là lúc xuất hiện tôn giáo". (Bàn về nghệ thuật, tr.486). Còn Thượng đế "Thượng đế cũng chỉ là một vật bịa đặt của con người, như một tấm ảnh chẳng hạn, có khác chăng là tấm ảnh thì ghi lại cái có thật, còn Thượng đế là bức ảnh chụp óc tưởng tượng của con người về chính mình, coi mình như một thực thể đang mong muốn và có thể trở thành toàn tài, toàn năng và chí thiện" (I, 284).
Ở một đoạn khác: "Thượng đế chỉ là một sự bịa đặt và bịa đặt rất vụng để nhằm củng cố quyền lực của con người đối với con người và chỉ cần cho. người chủ, còn với người lao động thì Thượng đế là kẻ thù ra mặt. Tất cả những gì anh minh thực sự đều giản dị và dễ hiểu. V.I.Lê nin, một con người có những tư tưởng giản dị và vì vậy vĩ đại, đã nói: "Tôn giáo là liều thuốc ru ngủ nhân dân" (I, 297-298). Những quan niệm đó đã giải phóng cho con người thoát khỏi ảnh hưởng tai hại của giáo hội, của nhiều giáo lý phản động của giai cấp thống trị muốn áp đặt sự thống trị bằng bạo lực lên đại đa số nhân dân, thức tỉnh họ quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trên trần thế.
Về bản chất của Thượng đế, nhà văn Mácxít cũng có những kiến giải táo bạo: "Hàng trăm năm nhà thờ đã nhồi nhét vào đầu óc nhân dân lao động một quan niệm cho rằng, Thượng đế là đấng toàn năng, rằng trong Thượng đế "biểu hiện một trí tuệ cao nhất". Tiếp theo, ở nhiều đoạn văn khác, nhà văn đã lý giải một cách thuyết phục sự hiện diện của Thượng đế. Trên thực tế, trí tuệ không có ở Thượng đế mà ở con người. Và nếu có thì đó là chuyện cổ tích, còn trong đời sống xã hội thì chuyện tôn vinh hay chống Thượng đế đã gắn liền với điều thiện và điều ác. Giả sử rằng Thượng đế là biểu tượng cái thiện cho mọi người thì không có lý gì để chống Thượng đế. Đằng này Thượng đế chỉ là cái thiện cho những kẻ cần củng cố quyền thống trị của họ.
Gorki cũng có những kiến giải hợp lý về thần và tín ngưỡng của nhân dân lao động: "Những vị thần của người lao động không phải là cái gì khác hơn những người lao động lý tưởng, những bậc thầy nghề nghiệp của mình: Vuncan và Thor là những người thợ rèn, Hêba và Frêya là những bà thợ dệt xuất sắc, Điana là người đi săn giỏi, Vainơmainen là một nhạc sĩ” (I, 362-368). Còn người thái cổ thì quan niệm thần thánh là "những con người tài giỏi đã chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng vật chất... là những người thợ rèn, ngay cả những vị nữ thần cũng làm đủ mọi việc: quay sợi, nấu ăn, chữa bệnh. Còn cái gọi là sáng tạo tôn giáo cửa người thái cổ thực chất là sáng tác nghệ thuật của người lao động không hề nhuốm màu thần bí (II, 189 - 190).
Tuy nhiên, khi vận dụng khái niệm Thần vào sáng tác văn học, Gorki đã sai lầm, nhất là khi ông chịu ảnh hưởng của thuyết "Cấu tạo Chúa".
Trong truyện dài Lời thú tội (1907-1908), nhà văn đã toan kết hợp chủ nghĩa Mác vào tôn giáo mới, lẫn lộn giữa công tác cách mạng và tình cảm tôn giáo, giữa nhận thức và lòng tin.
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcT7nfHPg4TZ9CIJVpUJdwe_eaSA4FjpS Kw6vvhnczKET7CdLeuD
Lịch sử nhân loại cho ta biết rằng, lúc nào và ở đâu khoa học chưa phát triển, con người bất lực trước sức mạnh của tự nhiên, mất lòng tín vào giai cấp thống trị, trình độ dân trí thấp, thì lúc đó, nơi đó tôn giáo hoành hành, tín ngưỡng mù quáng tự phát, mọc lên như nấm. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, từ Mác, Ăngghen cho đến Lênin không kỳ thị tôn giáo, tín ngưỡng, thậm chí tôn trọng, vì đó là nhu cầu tinh thần của một bộ phận cộng đồng người. Quan điểm minh bạch của Mác sau đây giúp chúng ta hiểu được và vận dụng có sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử của từng dân tộc: "Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người ... Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó. Phê phán pháp quyền, phê phán thiên hạ biến thành phê phán chính trị". Câu này Mác nói phù hợp với điều kiện lịch sử nước Đức thế kỷ XIX, còn sự phê phán tôn giáo là tiền đề của mọi sự phê phán, trong đó có phê phán chế độ chính trị kiểu Phổ, bởi nó là công cụ của chế độ tư bản, chứ không nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân nói chung.
Từ ngày Gorki qua đời đến nay đã gần 70 năm, trong ngần ấy thời gian, di sản văn học, văn hoá, triết học của ông để lại cho đời không ngừng được nhân đôi trong đời sống của nhân dân Nga, nhân dân Xô Viết trước đây và nhân loại tiến bộ. Ông mãi mãi là nhà văn vô sản vĩ đại, là nhà nhân văn chủ nghĩa, nhà khai sáng thời đại mình với hàng vạn trang viết, với nhiều luận điểm đề xướng và bảo vệ những vấn đề có tính toàn nhân loại, tính người, nguồn lực con người, thật xứng đáng được thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng và ngưỡng mộ. Mặc cho sức tấn công của báo chí lưu vong Nga những năm 20-30 (thế kỷ XX), mặc cho việc xuyên tạc và bôi nhọ của kẻ thu đã quy kết ông là "Nghệ sĩ cung đình thời đại Xtalin”. "Kẻ sáng lập nhơ nhuốc chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa" với mưu đồ chính trị thâm hiểm của một số đảng phái chống chủ nghĩa xã hội thời hậu Xô Viết, thì trước- sau Gorki vẫn là biểu tượng bất tử của nước Nga, của văn hoá nhân loại, bởi "Toàn bộ tư tưởng, tình cảm, sự nghiệp, công lao và cả sai lầm của ông đều bắt nguồn từ một cội nguồn duy nhất là dòng Vônga - con sông vĩ đại của nước Nga và tiếng rên của nó", như có lần Saliapin, một nhà văn lớn, đã nói về ông.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 09:23 PM
Maxim Gorki - nhà văn Nga vĩ đại, người đặt nền móng cho phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, người sáng tạo các tác phẩm kinh điển đầu tiên của phương pháp này có ảnh hưởng lớn đến văn học cách mạng vô sản thế kỉ XX hiện đang được nhìn lại khách quan và nghiêm khắc ở nước Nga.
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTrEf2Ly4WKp3YfYvgKXgVmeJD0mbn2E xmP68qL2XlBfUT2okb4PA
Tháng 9 năm 1929, trong bài báo Sự mất mát năng lượng viết để bênh vực nhà văn B. Pinnhắc trước sự công kích, Gorki nói:... Chúng ta có thói quen ngu xuẩn là đẩy một người lên đỉnh vinh quang, rồi sau đó lại ném người ta xuống bùn hoặc đốt người ta thành tro bụi. Có lẽ lúc bấy giờ M. Gorki không thể ngờ ngày hôm nay ông lại là nạn nhân của thói ngu xuẩn ấy.
Bắt đầu từ năm 1928 tên của Gorki được dùng để đặt cho thành phố, đường phố, bến tàu điện, viện nghiên cứu, nhà hát, công viên, thậm chí sân bay. Người ta kể lại là ông đã nổi giận và phản đối, nhưng chẳng ai nghe ý kiến của ông. Những năm 1928 - 1933 là năm chính quyền xô viết công nhận chính thức ông nhiều nhất, ông được đẩy lên đỉnh cao chót vót. Từ cuối những năm 80, bắt đầu một quá trình ngược lại. Thành phố, nhà ga, đường phố mang tên ông được thay bằng tên khác, thậm chí có người đề nghị bỏ tác phẩm của ông ra ngoài sách giáo khoa phổ thông. Ở Chêliabinsk khi thanh lí, một thư viện sách của ông bị đem ra đốt. Nhà phê bình Xukhic nói rõ ràng và ngắn gọn: Con lắc đánh giá đã chuyển tột cùng về phía bên kia: người đặt nền móng cho văn học Xô viết biến thành một trong những kẻ tội phạm trong việc nô dịch tinh thần đất nước, “người tư tế đầu tiên của Xtalin”.
Thời đại Cải tổ đã kích động để xoá bỏ lớp mạ vàng trên các bức tượng và ánh hào quang trong các tuyển tập của các tác phẩm kinh điển thuộc thời kì xô viết. Việc đó thực hiện rất dễ dàng bằng cách công bố hàng loạt bài trên các báo, tạp chí, các ấn phẩm của các nhà xuất bản. Đáng chú ý là vào năm 1993, là năm kỉ niệm 125 ngày sinh của nhà văn. Họ in lại hàng loạt bài báo cũ in ở nước ngoài. Nhưng nội dung thì không phải là kỉ niệm, không có bài tụng ca.
http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQsxoUBU-I7B9IloG2ZwJPY5piCF2WexJPI6mqFSBbzWIVMxLFk
Mặc dù hàng loạt bài dài dòng, trong đó, con người và sáng tác của nhà văn được đánh giá theo chiều hướng tiêu cực, song không ít công trình người ta cố gắng đánh giá khách quan hiện tượng Gorki, phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu, những thành tựu và những chỗ sai lầm. Nhìn lại sáng tác của Gorki thời kì trước cách mạng tháng Mười, trước hết là bài báo của L. Êgôrôva nhan đề Gorki và thời hiện đại, A. Sinhiapski có bài Tiểu thuyết Người mẹ như là mẫu mực đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, ở đó tác phẩm được phân tích dưới ánh sáng của tư tưởng “tạo thần”của Gorki. Gây xôn xao nhất là bài báo của G. Mitina Phúc âm của Mắc xim, nói rằng nguyên hình của tiểu thuyết Người mẹ là văn bản kinh Tân ước. Trong hình tượng Paven Vlasôp có hình bóng của một người vát thánh giá. Nhìn chung, phải nói là sự tước bỏ ánh hào quang giả tạo đã có hiệu quả. Một tác giả nói: Chúng ta đã bắt đầu phát hiện cho mình một nhà văn Gorki đầy mâu thuẫn, phức tạp, nói cách khác là một nhà văn sống động, chứ không phải nhà văn được tô vẽ ra theo một lí tưởng nào đấy.
Sử dụng các tài liệu lưu trữ, người ta làm sáng tỏ mối quan hệ Gorki với Lênin, một quan hệ trước đây được miêu tả như là tình bạn nồng nhiệt, thậm chí là ngọt ngào, một tấm gương về sự thống nhất tư tưởng và hiểu biết lẫn nhau. Về đề tài này, có bài báo của I. Rêviakina M. Gorki và Lênin - Những thư từ chưa công bố, bài báo của L.Xmiecnôva Gorki và Lênin - phá bỏ một huyền thoại. Các tác giả cho thấy đó là quan hệ phức tạp, đầy kịch tính, trong những năm 1909 - 1910- Gorki và Lênin không có điểm nào nhất trí với nhau cả.
Đáng chú ý là đề tài Gorki và Xtalin. L. Xpiriđônôva cho biết quan hệ Gorki và Xtalin bắt đầu từ năm 1907, họ gặp nhau tại Luân đôn. Những năm sau cách mạng, có một sự kiện đặc biệt, khi có người đề nghị nhà văn viết bài báo về đề tài: “người lãnh tụ của mọi thời đại” và có ai đó gửi cho ông tấm sec 2500 đô la, nhà văn đã từ chối. Căn cứ vào bài tụng ca lạnh lùng Gorki viết cho Xtalin vào năm 1930, nhà nghiên cứu đi đến kết luận: “Quan hệ hai người không mặn mà. Sự tiếp xúc của Gorki với Xtalin và những người thuộc giới Xtalin không hề có nghĩa là ông trở thành bạn hay đồng chí của Xtalin. Tác giả bài báo dẫn tư liệu của B. Bobrứshev cho thấy, khi Gorki mất, tiểu ban xử lí di cảo của nhà văn tìm thấy những trang, trong đó Gorki ví Xtalin với “con rận man rợ mà giới tuyên truyền đã thổi phồng to lên đến mức không tin được”. Các nhận định này thống nhất với ý kiến của V. Ivanôv nêu trong bài báo có tên: Tại sao Xtalin giết hại Gorki?
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQLAokwTl6d393LcosRj6xIgGI-3ONDwrAH-gk-Ttf6Ku08EzSi
Về vai trò người đặt nền móng cho phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, người ta liên hệ tư tưởng của Gorki với tư tưởng siêu nhân của Nítsơ và tư tưởng anh hùng Dân tuý. Đó là một hiện tượng mâu thuẫn. Gorki đi từ tư tưởng “Tôi thích Nitsơ” đến “tôi là con người của đám đông”, và “tôi không thích nhân vật của Lavrova-Mikhailovski cũng như không thích đạo đức thống trị mà Nitsơ đã nói rất hay”. Các mâu thuẫn ấy nói lên đặc điểm cá nhân nhà văn, nhưng các mô tip của Nitsơ thể hiện trong sáng tác Gorki thời kì đầu thì rất rõ rệt. Say mê với tư tưởng Mác xít về vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, hình như Gorki đã thay tư tưởng chủ nghĩa cá nhân của Nitsơ bằng tư tưởng tập thể. Sự thay đổi thể hiện trong tính cách của nhân vật. Paven Vlaxôp mặc dù có thể đặt vào hàng ngũ những Đancô có sức kêu gọi mọi người, nhưng anh vẫn gần với các nhân vật kiểu Nitsơ trong sáng tác thời kì đầu của nhà văn hơn, tức là các nhân vật trả lời câu hỏi: “Tôi làm gì cho mọi người?”. Theo nhận xét của nhà phê bình văn học Nga đương thời Đ. Philôxophop thì, nếu nhà văn từ bỏ các nhân vật ấy có nghĩa là chấm hết Gorki với tư cách là nhà nghệ sĩ, nhưng quan điểm đó không đúng. Thực chất của Gorki là thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người và nhân vật. Đối với nhân vật hiện thực xã hội chủ nghĩa, đó là nhân vật tập thể, là kẻ biểu hiện lợi ích của giai cấp mình (còn Nitsơ thì phủ nhận quan điểm giai cấp), do đó không phù hợp với con người siêu nhân của Nitsơ, là kẻ khi tiếp cận mọi người thì thấy “ảm đạm vì buồn chán” và “muốn tự giải thoát khỏi đám đông” để qua bên kia bờ thiện ác. Nhưng dù sao thì mối liên hệ Gorki và Nitsơ, là có thật, không thể phủ nhận.
L.Kolobaeva viết về mối quan hệ Gorki với Nitsơ, khẳng định rằng sự gần gụi giữa Gorki với Nitsơ và chịu ảnh hưởng của Nitsơ không phải là huyền thoại, mà là thực tế. Gorki đem vấn đề đạo đức của Nitsơ vận dụng vào nước Nga, sử dụng một số môtip và biểu tượng ở triết học của Nitsơ trong sáng tác. Gorki vẫn giữ tư tưởng cải tạo thế giới một cách duy ý chí của Nitsơ, tinh thần đó bắt gặp tư tưởng của K. Mác: “Các nhà triết học quá khứ chỉ giải thích thế giới, trong khi đó nhiệm vụ của triết học là cải tạo thế giới”. Gorki đã kết hợp tính tích cực của K. Mác với tính tích cực của Nitsơ. Rất thú vị là bản dịch về cương lĩnh triết học của Nitsơ ra tiếng Nga vào năm 1909 nghe như là sự diễn đạt khác của tư tưởng Mác: “Nitsơ muốn làm sao để cải tạo thế giới hơn là hiểu thế giới một cách nào đó”. Trong một bức thư gửi cho I. Micôla ngày 28 tháng 7 năm 1921, Gorki viết: “Tôi tin chắc vào năng lượng cá nhân nhiều hơn là năng lượng của quần chúng”. Tuy nhiên, cho dù không dẫn Mác và Nitsơ, Gorki với tư cách là nhà nghệ sĩ đã thể hiện thái độ tích cực đối với thế giới, thể hiện khát vọng cải tạo nó triệt để. So với văn học thế kỉ XIX, hoàn toàn có thể khẳng định tính chất mới mẻ về tính tích cực xã hội của nhân vật Gorki. Câu nói của Gorki: “Chỉ có những người cứng rắn, thẳng băng không thương xót như cây kiếm thì mới là người chọc thủng được xã hội cũ” có thể dùng làm đề từ cho chuỗi các nhân vật của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Vậy là kẻ siêu nhân kiểu Nitsơ đã biến thành nhân vật kiểu mới siêu nhân của cách mạng với “đôi mắt sáng ngời ánh thép”. Có người không hoàn toàn tán thành quan điểm này. R. Persova cho rằng quan hệ Gorki đã bị thổi phồng. Bà lưu ý rằng Gorki rất cố chấp, không dễ dàng tin theo người khác. Nên nói giống nhau đến mức nào, mâu thuẫn đên mức nào thì đúng hơn.
Ngoài quan hệ với tư tưởng của Nitsơ, Gorki còn có quan hệ với tư tưởng cực đoan của phái Dân tuý. Nhà tư tưởng Dân tuý Lavrop cho rằng dân chúng cần nhân vật thần thoại và những người chịu nạn mà huyền thoại về các nhân vật ấy sẽ chuyển hoá thành phẩm chất thực sự và công lao thực tế. Phải truyền cho dân chúng một nguồn năng lượng mà họ không có, ...các nhân vật sẽ trở thành một lí tưởng không thể có, không thể với tới trước đám đông. Số lượng những người sẽ chết không quan trọng. Huyền thoại về những con người ấy bao giờ cũng sẽ nhân họ lên tận cùng của khả năng. Cách hiểu về nhân vật chính diện như thế đã nuôi dưỡng những cốt truyện tạo thần của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không chỉ trong thời kì cách mạng, mà cả trong đời thường (ở đây cũng đòi hỏi anh hùng). Có thể tìm thấy một cái gì tương tự với điều trên trong cách hiểu về thực tiễn xã hội chủ nghĩa sau này của Gorki, khi ông đặt nhiệm vụ “Chuẩn bị những thử thách vĩ đại, dũng cảm có tính chất tập thể trong sự nghiệp giáo dục và xiết chặt kỉ luật nhằm mục đích chấm dứt sự thống trị khủng khiếp của những phi lí, ngẫu nhiên, cái sự thống trị cho đến nay vẫn được gọi là lịch sử. “Những yêu cầu về lòng hăng hái, niềm say mê của Nitsơ đã chuyển vào mĩ học đang hình thành của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Còn một đặc điểm nữa làm cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa gần với mĩ học của Nitsơ là tính chất thiêng liêng trong chừng mực nào đó. Ở đây, cái thiêng liêng phải có tác động thực tế bằng tác phẩm nghệ thuật đến ý thức và hành vi của người tiếp nhận. Có thể nhớ lại luận điểm của Nitsơ về vai trò của huyền thoại thời đại mới là “gợi lên một tồn tại khác, một niềm vui cao vời”. Sự phát huy độc đáo của các tư tưởng này có thể tìm thấy trong diễn văn của Gorki đọc tại Đại hội nhà văn Xô viết lần thứ nhất cũng như qua nhiều ý kiến khác của nhà văn về một chủ nghĩa lãng mạn làm cơ sở cho huyền thoại và làm thức dậy thái độ cách mạng đối với thế giới, một thái độ mà thực tế sẽ làm biến đổi thế giới. Như thế, tư tưởng về tính tích cực xã hội của văn học ở Gorki có cội nguồn văn hóa sâu xa.
http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQsw-PTQqaQYDbZ4eKF6pNc7MJZbx3arO7mlIZWt-GrT4zn7VabCg
Gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về Gorki, trong đó đáng chú ý là công trình của Viện Văn học thế giới: Gorki và thời đại của ông, 4 tập (1989 - 1995), chuyên luận của X. Xukhic Nhận lầm và bừng sáng của Macxim Gorki (1992), của L.Xpiridova; Gorki: đối thoại với lịch sử (1994), của N. Primochkina; Nhà văn và chính quyền: M. Gorki trong phong trào văn học những năm 20 (1996), ấn phẩm định kì: Gorki hôm nay (1996). Các công trình này cung cấp nhiều tài liệu mới chưa công bố về nhà văn, phần nhiều là thư từ với các nhà văn đương thời.
Các tác giả L.Kixêlôva và A. Minakova nghiên cứu các đặc điểm thi pháp và thi pháp huyền thoại trong sáng tác của Gorki.
Rất khó đánh giá ngành Gorki học hôm nay. V. Murômski cho rằng: Gorki đã và vẫn là nhà văn lớn hàng đầu của văn học Nga và mọi mưu đồ dai dẳng muốn xô đổ nhà văn khỏi đài danh dự chỉ có thể sẽ biến thành sự xác nhận nghiêm khắc tình trạng thực tế của sự vật: “Mối tình nồng nhiệt xung quanh Gorki đã lắng xuống, những công kích giật gân không còn, cảm hứng tố cáo đã nguội lạnh. Đã xuất hiện nhưng thái độ bình tĩnh và đầy suy nghĩ đối với sáng tác cũng như tiểu sử của nhà văn, với các tài liệu mới công bố. Tư tưởng văn học tuy khó khăn, nhưng vẫn liên tục mở đường đi tới một Gorki sống động, không tô vẽ, giải thoát ông không chỉ khỏi những truyền thuyết và huyền thoại, mà còn khỏi những cơn xúc động thần kinh nhất thời, những thói huênh hoang rởm đời, khỏi những cực đoan do các thói xấu ấy tạo nên. Quả thực, những gì đang xảy ra xung quanh tên tuổi của Gorki, không nên xem là khách quan hoàn toàn. Nhưng gột sạch lớp vàng dát bên ngoài các thần tượng là một việc tốt, nó mở đường để đi đến một Gorki sống động đích thực, một con người còn nhiều bí ẩn và mâu thuẫn.”
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 09:32 PM
Từ một cậu bé mồ côi,thất học,Alesei Peshkov đã vươn lên trở thành M.Gorki-nhà văn bậc thầy của giai cấp vô sản,con người được nhân dân thế giới kính trọng vì một vốn hiểu biết văn hóa vừa rộng lớn vừa sâu sắc.Nhờ đâu ? Nhờ một nghị lực sống phi thường đã tìm gặp được một thứ tài sản phi thường: sách.Nói đến M.Gorki,không thể không nói đến tự học,do đó không thể không nói đến sách.Chính ông đã nói đến tác động ghê gớm của sách đối với mình trong một lời phát biểu giản dị :
“Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”.
Câu nói ấy hàm chứa một ý nghĩa phong phú và một chân lí, một lời khuyên.
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTSSqhbnLhfSAphQi66H2rwP5BvRK0hU Mlf03GBZy3op8O1nTP2ug
Từ lâu con người đã biết đến sự kì diệu của sách.Sách,đó là cái thần kì trong những cái thần kì mà nhân loại đã sáng tạo nên.Thật không thể hình dung một nền văn minh mà không có sách.Từ hàng nghìn năm trước,khi chưa có chữ in,chưa có máy in,chưa có cả giấy bút nữa,thì nhân loại đã nghĩ đến sách rồi,đã có những hình thức đầu tiên của sách rồi.Sách là cái cần có để con người lưu giữ và truyền lại cho người khác,cho thế hệ khác,những hiểu biết của mình về thế giới xung quanh,những khám phá về vũ trụ,về con người,cả những ý nghĩ,những quan niệm,những mong muốn về cuộc sống cần gửi đến cho mọi người và trao gửi đến đời sau.
Sách,đó là kho tàng chứa đựng những hiểu biết của con người đã được khám phá,chọn lọc,thử thách,tổng hợp.Sách là nơi kết tinh những tư tưởng tiên tiến nhất của các thời đại,những hoài bão mạnh mẽ nhất,những tình cảm tha thiết nhất của con người.Chỉ có những gì mà con người cảm thấy bức xúc cần nói,cần truyền lại,mới đi vào sách.
Tác động của sách không hề bị giới hạn bởi thời gian và không gian.Con người ngày nay vẫn không giảm sút hứng thú tìm lại những trang sách đã có hàng mấy nghìn năm nay,từ những hình vẽ bí hiểm trên những phiến đất sét,những chữ cái từ lâu đã trở nên lạ lùng trên các tấm da cừu,những con chữ tượng hình trên các thẻ tre…cho đến hôm nay,những cuốn sách được in hàng loạt bằng những máy in điện từ hiên đại.Một người sống ở một làng hẻo lánh Châu Á cũng có thể đọc được cuốn sách của một người viết từ một đất nước xa xôi ở Châu Mĩ.Thật có thể không ngoa rằng: có sách,các thể kỉ và các dân tộc xích lại gần nhau.
Sách là thế,sách có sức mạnh như thế,cho nên M.Gorki đã rất có lí khi nói: “Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới”.
Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh,về vũ trụ bao la,về những đất nước và dân tộc xa xôi.Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó,hiểu được quả đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau với những hoàn cảnh thiên nhiên khác nhau.Những quyển sách xã hội học giúp hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế,lịch sử,văn hóa,những truyền thống,những khát vọng.
Sách,đặc biệt là những cuốn sách văn học,giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong của con người,qua các thời kì khác nhau,ở các dân tộc khác nhau,những niềm vui và nỗi buồn,hạnh phúc và đau khổ,những khát vọng và đấu tranh của họ.
Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình,hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này,hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác,với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này.Sách giúp người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc,đâu là nỗi khổ của mỗi người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng.
Đã từng có những cuốn sách không chỉ “mở rộng những chân trời mới” cho một người,trăm người,triệu người,mà cho cả nhân loại.Những trang sách của Bruno,Galie về quả đất và thái dương hệ đã mở ra cho loài người một thời kì mới trên con đường chinh phục tự nhiên.Những trang sách của Dacuyn về các giống loài không chỉ giúp con người hiểu rõ về các giống loài sinh vật mà còn hiểu rõ hơn về chính con người.Sách của Secspia,của Diderro,Monteskier rồi của Mac,Angghen…thực sự đã giúp con người làm những cuộc cách mạng.Đọc Bangdac ta hiểu về thế giới tư bản với sức mạnh lạ lùng của đồng tiền.Đọc thơ Tago,thơ Lý Bạch,Đỗ Phủ,ta hiểu đời sống và tâm hồn của cả những dân tộc.Đọc Nguyễn Du,Hồ Xuân Hương,Cao Bá Quát…ta hiểu xưa kia cha ông ta từng đau khổ và ước mơ những gì…Thật không sao kể hết “những chân trời” mà các trang sách đã mở rộng trước mắt ta.Có thể nói một cách tóm tắt rằng: lợi ích của sách là vô tận.Ta đồng ý với lời nhận xét của M.Gorki cũng là tiếp nhận lời khuyên bao hàm chứa trong câu nói ấy : Hãy đọc sách,cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt.
Tuy nhiên,chẳng lẽ đó là một lời khuyên vô điều kiện ? Ngẫm cho kĩ,ta vẫn thấy có một khoảng trống cần cân nhắc trong lời khuyên ấy.Vì sao ? Vì không phải mọi quyển sách đề “mở rộng những chân trời mới”.
Từ khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản,mọi vận dụng của con người,trong đó có sách,đều trở thành hàng hóa.Sách không chỉ là cái do con người viết ra cho con người đọc,mà còn là một món hàng cho những ông chủ nhà in,chủ nhà xuất bản kiếm lời.Mục đích của những ông chủ ấy,nói chung,không phải là phục vụ nhân loại mà để kiếm lợi nhuận,lợi nhuận tối đa.Vì thế,trên thị trường sách,không phải bao giờ cũng chỉ có những cuốn sách tốt thực sự phục vụ mục đích cao cả của con người,mà còn có rất nhiều những cuốn sách vì mục đích kiếm lời,đã gây tác hại không nhỏ cho con người.
Thế nào là sách tốt ? Đó là những cuốn sách phản ánh chính xác quy luật của tự nhiên và của đời sống xã hội.Chúng giúp con người ta hiểu rõ về số phận của mình để có ý thức đúng về nghĩa vụ của mình trong đời sống.Một cuốn sách tốt phải giúp cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn.Nó phải ca ngợi sự công bằng và tình hữu nghị giữa các dân tộc.Nó phải khiến cho con người thêm tự hào về mình,thêm vững tin ở cuộc sống để chiến đấu cho cuộc sống mỗi ngày một hợp lí và hạnh phúc hơn.Nó phải khiến cho tâm hồn con người trở nên phong phú hơn,độ lượng hơn,trong sáng hơn.
Đọc những cuốn sách như thế,đúng là chân trời mở rộng không chỉ trước mắt ta mà còn cả trong tâm hồn ta.Ta không chỉ tăng thêm hiểu biết mà còn tăng thêm giá trị và sức mạnh.
Còn thế nào là sách xấu ? Đó là những cuốn sách xuyên tạc đời sống,đưa đến cho người đọc những kiến thức giả trá về thế giới xung quanh.Chúng đề cao dân tộc này mà bôi nhọ dân tộc kia,chúng gây thù hằn và ngờ vực giữa các dân tộc,đề cao bạo lực và chiến tranh,kích động những thị hiếu bản năng thấp hèn của con người.
Đọc những cuốn sách như thế,người đọc không những không tăng thêm những hiểu biết mà còn trở nên dốt nát,mê muội hơn.Đọc những cuốn sách như thế,tâm hồn người đọc không những không hề mở rộng chân trời mà còn thêm khô cằn vì những thú tính độc ác,những ước muốn tầm thường ích kỉ,những tình cảm bạc nhược đớn hèn.Sách cỏ thể là một thứ thuốc bồi dưỡng cực kì công hiệu,cũng có thể là một thứ ma túy,một thứ thuốc độc cực kì nguy hiểm.
Bởi vậy,từ câu nói của nhà văn vô sản Nga,ta có thể tự xác định cho mình một thái độ đối với sách.Trước hết,phải biết quý trọng sách và coi việc đọc sách là một công việc rất cần thiết,vừa rất thú vị vừa rất bổ ích.Sống mà không đọc sách,không ham mê sách,là một điều không thể chấp nhận được.Nhưng phải chọn sách để đọc.Không bị mê hoặc bởi sự hấp dẫn của hình thức,không để bị lôi cuốn bởi những thị hiếu tầm thường,phải tìm đến những cuốn sách thực sự tốt,có ích.Mặt khác,đọc sách không chỉ là một sự hưởng thụ,mà còn là một cách hành động ở đời.Cho nên,đọc sách là để rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống tốt hơn,hành động có hiệu quả hơn.Đọc sách mà không tiêu hóa được,không vận dụng được vào hành động,thì dẫu đọc hàng nghìn cuốn sách cũng không hơn gì cái tủ mọt đựng sách.
Hàng ngàn năm qua, con người đã sáng tạo ra sách và mê đọc sách.Nhưng nếu xưa kia niềm vui ấy chỉ là đặc quyền của một số người rất nhỏ thì ngày nay là niềm vui,là quyền lợi của cả những con người bé nhỏ bình thường.Sách vẫn tiếp tục phát huy tác dụng kì diệu của nó.Ta không thể hình dung một thế giới không có sách.Không còn sách,nền văn minh nhân loại cũng sẽ không còn.
( tổng hợp )
Adonis
16-01-2011, 09:37 PM
Kịch Dưới đáy, Những kẻ thù, tiểu thuyết Người mẹ, bộ tự truyện ba tập Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi... Có lẽ, hiếm thấy một nhà văn nước ngoài nào – kể cả Gabriel Garcia Marquez – lại được dịch ra tiếng Việt khá đầy đủ và hệ thống như nhà văn Nga Maxim Gorky (1868-1936).
http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/0/VANHOAMOI/2008/Thang4/05-Khong-ht-11208-300.jpg
Gạt sang một bên những sở thích riêng tư hay định kiến chính trị hẹp hòi, đến ngày hôm nay, Maxim Gorky vẫn được coi là nhà văn đầy phức tạp, đầy mâu thuẫn, nhưng đã đóng vai trò đặc biệt trong tiến trình văn học cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Ý nghĩa sáng tạo của ông trong hai chục năm gần đây đã bắt đầu được soi rọi theo cách mới.
Trong dịp kỷ niệm lần thứ 140 ngày sinh Maxim Gorky, tại Viện Văn học Thế giới mang tên M. Gorky, hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề Maxim Gorky – nhìn từ thế kỷ XXI về vị trí của nhà văn trong thế giới hiện nay đã diễn ra trong hai ngày 27 và 28.3.2008. Các đại biểu của giới nghiên cứu văn học Nga, Ukraine, Ba Lan, Pháp, Italy và Mỹ đã đọc tham luận và thảo luận sôi nổi những vấn đề quan thiết: Gorky có phải người sáng lập ra phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa?... NĐBND xin trích giới thiệu một tham luận quan trọng tại hội thảo này.
... Gorky là một trong những tác gia then chốt của văn học thế giới thế kỷ XX, không nghiên cứu sáng tác của ông thì sẽ không thể hiểu lịch sử, cuộc đấu tranh triết học - tư tưởng và đời sống văn hóa - xã hội thời kỳ ấy. Những câu hỏi – về động lực của lịch sử, về chức phận của con người và ý nghĩa cuộc sống, mối tương quan giữa cá nhân và tập thể, niềm tin và tín ngưỡng tôn giáo, tự do và nhu cầu, tính nhân văn và thói bạo lực - hằng khiến nhà văn trăn trở vẫn tiếp tục chiếm lĩnh đầu óc của con người trong thế kỷ XXI, bởi vì thế giới lại lâm vào ngưỡng của một cuộc khủng hoảng và những biến cải toàn cầu.
Đặc trưng cho các sáng tác thời kỳ đầu của Gorky là sự tổng hợp giữa chủ nghĩa lãng mạn với chủ nghĩa hiện thực. Nhưng không chỉ có thế, trong các truyện ngắn của ông có “những mũi kim sắc sảo và tinh vi của tính tiểu tư sản”. M. Nike - nhà nghiên cứu đương đại - coi M. Gorky với chủ nghĩa tân lãng mạn kiểu Nietzsche rất gần với những người cùng thời ông theo chủ nghĩa tân hình thức, song vẫn khác với Nietzsche là nhà văn đã tạo dựng nên cách tân thần thánh. Dẫu có nói gì về phương pháp sáng tác của M. Gorky, nhưng ông vẫn cứ là một nhà cách tân và mở ra một khuynh hướng văn học được gọi là “phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa” trong thập niên 30 của thế kỷ vừa qua. ấy là tên do người ta đặt cho, chứ bản thân Gorky vẫn gọi đó là phương pháp lãng mạn xã hội chủ nghĩa. Bây giờ, một lần nữa nảy sinh câu hỏi: Phải chăng phương pháp đó là kết quả “sự bạc nhược” của M. Gorky, là trò bịa tạc của giới chức sắc thời Stalin hay một bước tiến triển mới của quá trình văn học ở Nga thế kỷ XX?
... Học giả Vogué có viết rằng: Sự phục sinh của chủ nghĩa lãng mạn diễn ra trên khắp châu âu: Gorky (Nga), Habriel D’Annuzio (Pháp), Rudyard Kipling (Anh), Gerhard Hauptmann (Đức), Henryk Sienkiewicz (Ba Lan) – tất cả các tác giả đó là anh em ruột có chung một người cha tinh thần là Nietzsche. Tiên cảm về những biến động sắp tới, về sự tan rã của những mối quan hệ vốn bền vững trong xã hội và gia đình đã sản sinh ra vấn đề “thế giới liên hiệp lại” xung quanh con người và tìm kiếm lý tưởng lãng mạn. Trong văn học Nga đầu thế kỷ XX, liên quan đến việc đánh giá lại toàn bộ các giá trị thì vấn đề tính cá nhân là đặc biệt nóng bỏng. Một lớp nhà văn thì theo Nietzsche với lý tưởng “con người thực chất”, sống theo luật của chính mình, không bị ràng buộc bởi bất cứ quy chuẩn nào của cuộc sống xã hội; Một lớp khác lại theo lý tưởng của Hyppolite Taine, coi trọng tính tích cực chủ động của cá nhân để vượt qua uy lực của môi trường, kết hợp với học thuyết Marx về sự lệ thuộc của con người vào những yếu tố kinh tế... Gorky thuộc số những nhà văn ca tụng con người tích cực hiến mình cho cuộc đấu tranh vì công bằng xã hội và kiến tạo lại cuộc sống với khởi đầu trí tuệ hơn. Trên phương diện triết học thì tư duy của nhà văn còn bảng lảng giữa hai thái cực, loay hoay tìm cách tổng hợp, dung hòa chúng làm một. Ở giao thừa hai thế kỷ, nhà văn viết: “Tôi không biết còn có gì tốt đẹp hơn, phức tạp hơn, lý thú hơn con người. Con người là tất cả. Con người tạo nên thánh thần... Tôi tin rằng con người có khả năng không ngừng tự hoàn thiện, theo đó toàn bộ hoạt động của con người sẽ tiến triển cùng với con người từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tôi tin rằng cuộc sống là vô hạn, và tôi hiểu cuộc sống là sự chuyển động tới sự hoàn thiện tâm hồn”. Xin nhấn mạnh: không phải tới sự hoàn thiện cơ cấu xã hội, mà là sự hoàn thiện của tâm hồn và của bản thân con người. Riêng điều đó thôi cũng đủ chứng tỏ Gorky không phải là tín đồ của chủ nghĩa Marx. Ông thẳng thắn thú nhận trong thư gửi A. M. Skabichevsky: “Tôi không theo Marx và sẽ mãi mãi không theo”. Đức tin đích thực của Gorky trong suốt cuộc đời nhà văn là Con Người.
Cũng trong năm 1906, khi ở nước Nga xuất hiện bài Karl Marx như một tôn giáo mới của S. Bulgakov, nhà văn đang ở Mỹ bắt đầu viết tiểu thuyết Người mẹ như một sách gối đầu giường cho giai cấp vô sản. Gorky hiểu lý tưởng xã hội chủ nghĩa như một tôn giáo mới, tức là một biểu hiện của đời sống tinh thần. Gần gũi với những người Bolshevich từ năm 1902 và tìm mọi cách giúp đỡ họ, vậy mà nhà văn vẫn không là người Marxist. Tiểu thuyết Người mẹ bị V. Lenin phê bình chính là bởi trong tác phẩm, phong trào công nhân được thể hiện như con đường dẫn tới niềm tin mới, nhưng các nhân vật trong đó lại giống như những thánh thần công giáo. Tiểu thuyết Người mẹ và Lời bạch phản ánh quan điểm kiến tạo thánh thần của Gorky, việc mà ông say mê sau khi đọc Tôn giáo và chủ nghĩa xã hội, Tương lai của tôn giáo của A. Lunacharsky. Đã từng làm quen với âu - Mỹ và những biến dạng của trào lưu dân chủ - xã hội và những luận thuyết mới nhất của triết học, Gorky đi đến kết luận rằng bản thân khái niệm “cách mạng” cần được khơi sâu và mở rộng, đưa vào đó ý tưởng đổi mới tinh thần con người thông qua một tôn giáo mới.
Sự khác biệt giữa nhà văn với Lenin bộc lộ sâu sắc trong những ngày bão táp 1917-1918 và có sự đánh giá gay gắt đối với hành động và tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm của vị lãnh tụ cách mạng... Không hiểu rõ lắm nguyên nhân sự khác biệt về triết học giữa những người dân chủ - xã hội, Gorky đã có một thời gian dài không ưa những biểu hiện khác nhau của “đấu tranh nội bộ” và cho đến lúc chết vẫn chỉ coi mình là người Bolshevich ngoài Đảng. Mặc dầu vậy, nhà văn vẫn không từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đường lối tập thể vô sản.
Những năm dưới chính quyền Xô viết, quan điểm về thế giới và con người của Gorky có thay đổi, nhưng cấu thành của nó thì vẫn giữ được như trước: Chủ nghĩa xã hội như một điều kiện để phát huy tinh thần của từng cá nhân, chủ nghĩa tập thể là cơ sở đảm bảo thành công trong lao động, giáo dục con người mới và ước mơ về sự hài hòa của thế giới: Phải đấu tranh với thiên nhiên, phải rèn đúc lại những kẻ tội phạm, phải đạt tuổi thọ cao. Một trong những đề tài Gorky thích phát biểu là xây dựng “chủ nghĩa nhân văn vô sản”. Trong cuộc thảo luận về bản báo cáo ngày 25.3.1918 tại Nhà Xuất bản Văn học Thế giới, M. Gorky vặn lại ý kiến của A. Blok và khẳng định rằng trong những năm cách mạng, lý tưởng phong kiến truyền thống đã tạm rút lui và đề nghị thay nó bằng “chủ nghĩa nhân văn mới” – từ này sau đó được thêm tính từ “vô sản”... Trong điều kiện nguy cơ phát xít ngày mỗi tăng, khi nhà thờ Chính thống giáo ở phương Tây mở cuộc thập tự chinh chống Liên Xô, việc bảo vệ các giá trị chung của nhân loại đòi hỏi phải khắc nghiệt, không khoan nhượng với kẻ thù, Gorky khẳng định: “Nếu kẻ thù không chịu quy hàng thì phải bắn bỏ” - ấy là nhằm vào kẻ thù, chứ không hề nhằm vào những nạn nhân vô tội. Cái logic nghiêm khắc “lòng căm thù của giai cấp vô sản” được nhà văn coi như khả năng duy nhất, khi bản thân nguyên tắc tồn tại của Liên Xô bị lâm nguy. Tuy nhiên, vừa công nhận quyền được khắc nghiệt về mặt lý thuyết, Gorky vẫn cố gắng kiềm chế thói khủng bố đang lộng hành, cứu nhiều người khỏi bị theo dõi và hãm hại, gắng dung hòa Stalin với các thành viên của phái chống đối, lên tiếng chống bẻ cong công cuộc tập thể hóa...
Gorky quả thực đã trở thành nhà kinh điển đầu tiên của xu hướng mới trong văn học Nga. Ông muốn tạo nên một hình mẫu mới về nguyên tắc cho thế giới, trong đó kết hợp được những học thuyết hiện đại với ước mơ lâu đời trong dân gian về hạnh phúc và cuộc sống mới. Từng bước lĩnh hội các hệ thống văn học tiên phong và truyền thống, nhà văn tiến tới chứng minh một phương pháp dựa trên cơ sở mắt thấy tai nghe hiện thực, từ tầm cao của các lý tưởng tương lai. Phương pháp lãng mạn xã hội chủ nghĩa của nhà văn, sự tổng hòa giữa chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa tân hình thức đã làm nên cái mới của ông.
( tổng hợp )
Powered by vBulletin™ Version 4.1.2 Copyright © 2013 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.